- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thạch Thị Út N"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thạch Thị Út N, chị Thạch Thị Út N được ly hôn với anh Điểu O.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2026/HNGĐ-ST Ngày 30-03-2026. “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Danh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lê.
Bà Trần Thị Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 12 - Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 03 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 12 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 28/2026/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn” giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Thạch Thị Út N, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Điểu O, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2026, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thạch Thị Út N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Điểu O tự nguyện chung sống với nhau và tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 14/02/2014. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nẩy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Điểu O.
Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 02 con chung là Điểu D, sinh ngày 21/03/2011, Điểu Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2017, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Điểu Thị Ngọc N cho đến khi thành niên, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Giao con chung là Điểu D cho anh Điểu O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Điểu O trình bày: Anh xác nhận tình trạng hôn nhân giữa anh và chị N như chị N khởi kiện là đúng, anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện nay chị N yêu cầu ly hôn với anh thì anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N.
Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 02 con chung là Điểu D, sinh ngày 21/03/2011, Điểu Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2017, sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Điểu D cho đến khi thành niên, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Giao con chung là Điểu Thị Ngọc N cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thạch Thị Út N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:
Theo đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Út N yêu cầu ly hôn với anh Điểu O, nơi cư trú của anh Điểu O tại thôn B, xã N, tỉnh Đồng Nai. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án “ Hôn nhân gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 12 – Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn, bị đơn có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
. Về nội dung vụ án:
Xét quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Thạch Thị Út N và anh Điểu O tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 14/02/2014. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Thạch Thị Út N và anh Điểu O là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Thạch Thị Út N thấy rằng: Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nẩy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Điểu O, bị đơn anh Điểu O cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Thạch Thị Út N. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Thạch Thị Út N và anh Điểu O đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, thực tế thì anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nên mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thạch Thị Út N là phù hợp.
Xét nguyện vọng nuôi con của chị Thạch Thị Út N và anh Điểu O thấy rằng: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 02 con chung là Điểu D, sinh ngày 21/03/2011, Điểu Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2017, sau khi ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Điểu Thị Ngọc N cho đến khi thành niên. Giao con chung là Điểu D cho anh Điểu O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Anh Điểu O cũng có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Điểu D cho đến khi thành niên, giao con chung là Điểu Thị Ngọc N cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ, từ khi sống ly thân cho đến nay chị Thạch Thị Út N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Điểu Thị Ngọc N, anh Điểu O là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Điểu D, do đó cần giao con chung là Điểu Thị Ngọc N cho chị Thạch Thị Út N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, giao con chung là Điểu D cho anh Điểu O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thạch Thị Út N và anh Điểu O không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Thạch Thị Út N phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ và số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001585 ngày 19/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84; Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thạch Thị Út N, chị Thạch Thị Út N được ly hôn với anh Điểu O.
[2]. Về con chung: Giao con chung Điểu Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2017 cho chị Thạch Thị Út N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Giao con chung Điểu D, sinh ngày 21/03/2011 cho anh Điểu O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thạch Thị Út N và anh Điểu O không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của anh chị đối với con chung được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
[4]. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Chị Thạch Thị Út N phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ và số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001585 ngày 19/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND Khu Vực 12; - THADS tỉnh Đồng Nai; - Các Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Danh |