vanban.org

Bản án 36/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị N.

Về quyền nuôi con: Giao con chung Lê Mạnh H1, sinh ngày 10/7/2016 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Về việc cấp dưỡng nuôi con và chi phí nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36 /2026/HNGĐ - ST
Ngày: 31/03/2026
V/v: “Thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Văn Hào

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thùy Trang - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 03 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 173/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26a/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2026/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 03 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị N - sinh năm 1990

Địa chỉ: Xóm D, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn A - sinh năm 1987

Nơi ĐKNKTT: Xóm D, xã Đ, tỉnh Nghệ An.

Nơi ở hiện nay: nước ngoài (không rõ địa chỉ). Vắng mặt lần 2

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1996

Địa chỉ: Xóm D, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị N trình bày:

Chị Hồ Thị N và anh Lê Văn A trước đây là vợ chồng hợp pháp. Ngày 09/4/2021Toà án nhân dân thị xã T- tỉnh Nghệ An đã giải quyết ly hôn theo Quyết định số 24/2021/QĐST-HNGĐ. Theo quyết định thuận tình ly hôn thì con chung được giải quyết như sau: giao cho chị Hồ Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Mạnh H, sinh ngày 05/4/2019; Giao cho anh Lê Văn A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Mạnh H1, sinh ngày 10/7/2016 cho đến khi các con chung trưởng thành; chị N và anh A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, cháu Lê Mạnh H1 chung sống với anh A cho đến năm 2023 thì anh A kết hôn với người khác và cháu H1 ở với anh A và vợ mới của anh A. Đến năm 2025 thì anh Lê Văn A đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài và giao cháu Lê Mạnh H1 cho vợ mới của anh A trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình ở với vợ mới của anh A thì cháu H1 nói với chị N là muốn được về ở với mẹ để mẹ trực tiếp trông nom chăm sóc và nuôi dưỡng. Do con có nguyện vọng ở với chị và hơn nữa chị N muốn được trực tiếp nuôi con. Trong khi anh A không ở nhà, việc giao con chung là cháu H1 cho người khác nuôi chị không yên tâm, chị muốn gần gũi, chăm sóc con và bày dạy cho con học nên chị N khởi kiện yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là giao con chung Lê Mạnh H1 cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, chị N không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.

Đối với bị đơn là anh Lê Văn A:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh A biết đồng thời tống đạt các văn bản tố tụng, các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh A nhưng anh A không có mặt để giải quyết vụ án. Qua xác minh biết hiện nay anh A đang đi làm ăn ở nước ngoài nhưng không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân của anh A theo đúng quy định tại điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh A đều vắng mặt không có lý do.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị T trình bày: Chị và anh Lê Văn A đăng ký kết hôn vào năm 2023, anh A có con riêng là cháu Lê Mạnh H1, sinh ngày 10/7/2016 được Toà án giao cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi kết hôn với anh A thì cháu H1 vẫn ở với anh A và chị. Năm 2025 anh A đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài và giao lại cháu Lê Mạnh H1 cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện anh A không có địa chỉ cụ thể, chị và anh A chỉ liên lạc với nhau qua zalo. Việc chị Hồ Thị N làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chị đã thông báo cho anh A biết nhưng anh A không có ý kiến gì và chị cũng không có ý kiến gì. Chị không yêu cầu các chi phí trong thời gian nuôi cháu H1.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Toà án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị N là thay đổi người trực tiếp nuôi con là Lê Mạnh H1, sinh ngày 10/7/2016 giao cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành; Không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu; Về án phí: Nguyên đơn chị Hồ Thị N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Hồ Thị N có nơi cư trú tại xóm D, xã Đ, tỉnh Nghệ An yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với anh Lê Văn A là bị đơn có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh tại xóm D, xã Đ, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An theo quy định tại khoản 3 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự và các điều 122, 123 Luật Hôn nhân và gia đình

- Về việc xét xử vắng mặt của đương sự:

Đối với anh Lê Văn A là bị đơn có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh tại xóm D, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh A biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh A, chính quyền địa phương, ban cán sự xóm đã phối hợp với gia đình xác minh địa chỉ của anh A nhưng không rõ địa chỉ, gia đình anh A đã thông báo cho anh A biết thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh A không đến và không có ý kiến gì. Tòa án đã tiến hành tống đạt qua thân nhân của anh A và niêm yết các văn bản tố tụng cho anh A theo đúng quy định tại điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị T: Quá trình giải quyết vụ án chị T đã có bản khai trình bày ý kiến và có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà.

Về nội dung

Chị Hồ Thị N và anh Lê Văn A đã ly hôn theo Quyết định số 24/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09/04/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. Theo quyết định về con chung được giải quyết như sau: giao cho chị Hồ Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Mạnh H, sinh ngày 05/4/2019 cho đến khi con chung trưởng thành; Giao cho anh Lê Văn A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Mạnh H1, sinh ngày 10/7/2016 cho đến khi con chung trưởng thành; chị N và anh A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật thì cháu Lê Mạnh H1 chung sống với anh A. Năm 2023 anh A kết hôn với chị Bùi Thị T và cháu H1 sống cùng anh A và chị T. Năm 2025, anh A đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài và giao lại cháu H1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian ở với chị T cháu H1 nói với chị N là muốn về ở với mẹ và có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ là chị Hồ Thị N.

Quá trình xác minh được biết anh A hiện đang đi làm ăn ở nước ngoài, không ai biết địa chỉ cụ thể của anh A ở đâu, chỉ liên hệ với người thân qua zalo. Tòa án đã gửi Công văn xác minh thủ tục xuất, nhập cảnh tới Phòng Q, Công an tỉnh N thì được cung cấp thông tin lần anh A xuất cảnh gần nhất ngày 04/11/2025, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Hội đồng xét xử thấy rằng anh A được Toà án giao là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Mạnh H1 theo Quyết định số 24/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09/04/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An nhưng hiện tại anh A đang đi làm ăn ở nước ngoài ( không rõ địa chỉ) và giao cháu H1 lại cho chị T (vợ mới của anh A) nuôi dưỡng. Trong thời gian ở với chị T, cháu Lê Mạnh H1 có nguyện vọng được về với mẹ và đơn trình bày nguyện vọng là được ở với mẹ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị T không có ý kiến gì về yêu cầu của chị N và không yêu cầu chi phí về thời gian nuôi dưỡng cháu H1. Chị N cho rằng anh A không trực tiếp nuôi con là vi phạm quyết định của Toà án và hơn nữa chị mong muốn được gần gũi chăm sóc, nuôi dưỡng con và bày dạy cho con học. Xét thấy yêu cầu của chị N là phù hợp đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt cho con chung nên hội đồng xét xử thấy cần thay đổi người trực tiếp nuôi con là giao con chung Lê Mạnh H1, sinh ngày 10/7/2016 cho N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Hồ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 84, 122, 123, điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 40; điều 147, điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị N.

Về quyền nuôi con: Giao con chung Lê Mạnh H1, sinh ngày 10/7/2016 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành.

2. Về việc cấp dưỡng nuôi con và chi phí nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Anh A có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Hồ Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0003478 ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hồ Thị N có mặt tại phiên toà được quyền kháng lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Lê Văn A đang cư trú tại nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ