- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoang Phuoc D (Trom cap tai san) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Phước D (Nguyễn Văn K) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 31 – 12 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Kim Kết
Ông Nguyễn Văn Hiển
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4
- Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Mãy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2015 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Hoàng Phước D (tên gọi khác: Nguyễn Văn K), sinh năm 1978 tại Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp C, xã K, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Thịnh X và bà Nguyễn Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án: 02 tiền án. Cụ thể: Ngày 27/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 03/11/2022 chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành án phí và trách nhiệm dân sự; Ngày 24/11/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 25/6/2025 chấp hành xong hình phạt tù, chấp hành xong án phí, nhưng chưa chấp hành xong phần nghĩa vụ nộp sung quỹ nhà nước; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 07/7/1989, bị Tòa án nhân dân thị xã Cà Mau, tỉnh Minh Hải xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” và “Trốn khỏi nơi giam”, đã chấp hành xong; Ngày 26/7/1993, bị Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, đã chấp hành xong; Ngày 11/01/1995, bị Tòa án nhân dân tỉnh Minh Hải xử phạt 04 năm tù về các tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” và “Chiếm đoạt vũ khí quân dụng”, đã chấp hành xong, Ngày 03/6/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, đã chấp hành xong. Ngày 17/5/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/8/2025 đến ngày 21/8/2025 chuyển tạm giam đến nay (có mặt).
- Bị hại:
+ Ông Kiều Thanh Y, sinh năm 1950; nơi cư trú: Ấp S, xã L, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
+ Ông Bùi Thanh H, sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp S, xã L, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng tháng 6/2025, Hoàng Phước D sau khi chấp hành xong hình phạt tù nhưng không về địa phương sinh sống, mà sống lang thang ở địa bàn thành phố C (cũ). Từ đó, trong tháng 8/2025, D đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 00 giờ ngày 07/8/2025, D đến khu vực cầu H (phường T, tỉnh Cà Mau) rồi thuê xe mô tô Grab của một người thanh niên (chưa xác định được lai lịch, nhân thân) đi đến địa bàn xã L, tỉnh Cà Mau để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến trước nhà của ông Bùi Thanh H ở ấp S, xã L, D xuống xe và trả tiền xe, sau đó, xe G1 chạy đi. Lúc này, D đi bộ ra phía sau nhà của ông H, rồi đi vào trong nhà thông qua cửa sau; D thấy có 01 ti vi nhãn hiệu Led LG, loại 50UP7800PTB 50 inch đang để trên từ ở gần cửa nhà sau nên liền lấy trộm mang ra ngoài để cập lộ bê tông (cách nhà ông H khoảng 20m). Sau đó, D tìm sung quanh thấy một tấm cao su màu trắng nên lấy đến quấn tivi lại, rồi mang đến bờ vuông giấu vào một bụi cỏ, cách nhà ông H khoảng 120m. Xong, D đón xe garb đi về khu vực phường T, tỉnh Cà Mau.
Lần thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 09/8/2025, khi đang ở khu vực cầu H (Phường T, tỉnh Cà Mau), D tiếp tục thuê xe mô tô G1 của một người thanh niên (chưa xác định được lai lịch, nhân thân) đi đến địa bàn xã L, tỉnh Cà Mau để tiếp tục tìm tài sản lấy trộm. Khi đến ấp S, xã L, D xuống xe và trả tiền xe để xe Grab chạy đi, sau đó, D đi bộ đến nhà của ông Kiều Thanh Y, cách đó khoảng 100m, trèo qua hàng rào vào trong sân rồi đi vào nhà của ông T Y thông qua cửa bên hong nhà. Sau khi vào được trong nhà, D thấy có 01 ti vi nhãn hiệu Led 4K Samsung, loại UAS5CU8000 55 inch đang để trên giá tivi ở giữa nhà nên đến tháo lấy mang ra để ngoài sân; D tiếp tục quay trở vào nhà tìm thì thấy có 01 cái loa Blutooth hiệu Nanomax, loại SK-15X3 để ở gần cửa nhà trước nên lấy tiếp và mang ra để cạnh chiếc ti vi, rồi tiếp tục quay trở vào nhà tìm và lấy tiếp 02 chai rượu Chivas 18, 02 thùng bia Tiger Crystal loại 250ml và 01 thùng bia Larua Smooth loại 330ml mang ra ngoài. Xong, D dùng đoạn sắt nhặt được trước sân nhà ông Y C bẻ ở khóa cổng rồi mang tất cả tài sản trên ra để cạnh gốc cây phía trước hàng rào. Tiếp đó, D đi đến chỗ giấu chiếc ti vi lấy trộm của ông Bùi Thanh H vào ngày 07/8/2025 lấy mang đến để cùng với số tài sản vừa trộm được. Sau đó, D đón xe mô tô G1 của một người thanh niên (chưa xác định được lai lịch, nhân thân) chở D và toàn bộ tài sản trộm được trên về khu vực cầu H, đến đây, D xuống xe mang theo 02 chai rượu và 03 thùng bia, còn 02 chiếc ti vi và loa Blutooth trên thì D tiếp tục thuê xe Grab này chở đến nhà gửi cho ông Nguyễn Ngọc G (là em ruột của D) ở khóm B, phường T (cách cầu H khoảng 500m). Sau khi xe G1 đi, D thuê xe mô tô Grab khác của một người thanh niên (chưa xác định được lai lịch nhân thân) mang theo 02 chai rượu và 03 thùng bia đi đến ấp C, xã K, tỉnh Cà Mau để nhậu với những người bạn tên H, D, X1 và P1 (chưa xác định được lại lịch, nhân thân).
Đối với ông Nguyễn Ngọc G, thì sau khi xe G1 mang 02 chiếc ti vi và loa Blutooth đến và để trước của nhà, G ra thấy thì biết đó là tài sản của D gửi nên mang vào nhà cất. Đến ngày 14/8/2025, ông G mang toàn bộ tài sản trên giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.
Đến ngày 14/8/2025, Hoàng Phước D bị Công an xã L mời làm việc và D đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.
Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 154/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 8 năm 2025, số 246/KL-HĐĐGTS ngày 01 tháng 10 năm 2025 và số 257/KL-HĐĐGTS ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Cà Mau kết luận tài sản mà Hoàng Phước D đã lấy trộm của ông Kiều Thanh Y và ông Bùi Thanh H có giá trị như sau:
- 01 Tivi màu đen, nhãn hiệu Led 4K Samsung, loại UAS5CU8000, kích thước màn hình 55 inch có giá trị là 8.792.000 đồng.
- 01 loa Blutooth hiệu Nanomax, loại SK-15X3 có giá trị là 4.800.000 đồng.
- 02 thùng bia T1 loại 250ml, còn nguyên thùng có giá là 789.000 đồng.
- 01 thùng bia Larua Smooth loại 330ml, còn nguyên thùng có giá là 278.000 đồng.
- 02 chai rượu Chivas 18, có giá là 3.167.000 đồng.
- 01 Tivi Led LG 50UP7800PTB, màn hình 50 inch, có giá trị là 3.836.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 21.662.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, sáu trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã giao trả cho ông Bùi Thanh H 01 Tivi Led LG 50UP7800PTB, màn hình 50 inch; giao trả cho ông Kiều Thanh Y 01 Tivi màu đen, nhãn hiệu Led 4K Samsung, loại UAS5CU8000, kích thước màn hình 55 inch và 01 cái loa Blutooth hiệu Nanomax, loại SK-15X3; đối với 02 thùng bia Tiger Crystal loại 250ml, 01 thùng bia Larua Smooth loại 330ml và 02 chai rượu Chivas 18, bị cáo xác định đã sử dụng hết, ông Y không yêu cầu bồi thường. Về xử lý trách nhiệm hình sự: Ông H và ông Y yêu cầu xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.
Từ những nội dung trên, Cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 01/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cà Mau đã truy tố Hoàng Phước D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo Hoàng Phước D thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng tuy tố, không có ý kiến tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Phước D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Phước D từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Không có.
- Xử lý vật chứng và án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hoàng Phước D thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, lời khai của bị hại, kết luận định giá, từ đó có đủ cơ sở kết luận: Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, từ khoảng tháng 6/2025 Hoàng Phước D không về địa phương cư trú mà sống lang thang trên địa bàn thành phố C (cũ). Trong tháng 8/2025, D đã hai lần lợi dụng đêm tối lén lút vào nhà người khác tại xã L, tỉnh Cà Mau để lấy đi tài sản, cụ thể:
- Ngày 07/8/2025, D vào nhà ông Bùi Thanh H trộm 01 ti vi Led LG 50 inch của ông H và đem giấu.
- Ngày 09/8/2025, D tiếp tục vào nhà ông Kiều Thanh Y trộm 01 ti vi Samsung 55 inch, 01 loa Bluetooth, rượu và bia của ông Y; đồng thời lấy lại ti vi đã trộm trước đó, rồi mang tài sản trộm đến nhà ông Nguyễn Ngọc G, gửi cất giữ. Ngày 14/8/2025, ông G giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Xét thấy bị cáo Hoàng Phước D nhận thức được việc lấy trộm tài sản người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài không bằng công sức lao động hợp pháp, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản trộm được định giá là 21.662.000 đồng nên lần phạm tội này là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo định tại khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Từ đó, Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 01/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cà Mau truy tố bị cáo Hoàng Phước D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng với hành vi phạm tội bị cáo.
Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã nhiều lần bị Toà án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo vẫn không thật sự biết cải sửa sau khi chấp hành xong hình phạt các bản án trước mà còn tiếp tục vấn thân vào con đường phạm tội. Vì vậy, việc áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo với đời sống xã hội có thời hạn nhằm tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Đồng thời cũng răn đe và phòng ngừa chung các hành vi phạm tội tại địa phương.
Tại vụ án, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của người khác; giá trị tài sản lấy trộm tại các lần phạm tội đều đủ định lượng cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với ông Nguyễn Ngọc G đã có hành vi cất giữ tài sản do bị can D gửi, tuy nhiên G không biết đó là tài sản do D phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Giàu có căn cứ. Đối với những người thanh niên chạy xe mô tô G1 đã chở bị can D trong quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và đã chở tài sản mà D trộm được để đi gửi, do chưa xác định được lai lịch, nhân thân của những người này, nên yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ xử lý sau. Đối với người tên H, D, X1, P1, do chưa xác định được lai lịch, nhân thân, đồng thời bị can D khai nhận là khi mang bia, rượu đến nhậu, D không có nói cho những người này biết do trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không đặt ra xử lý là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Phước D (Nguyễn Văn K) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Phước D (Nguyễn Văn K) 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 15/8/2025.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt thì thời hạn được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Cà Mau; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4; - Phân trại tạm giam Đầm Dơi; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4; - Ủy ban nhân dân xã Khánh Lâm; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hiền |