vanban.org

Bản án 36/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tam T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1- Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tam T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép ma túy của Huỳnh Tam T - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tam T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST.
Ngày: 28/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Đức Nhân.

+ Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Đặng Xuân Lâm- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến, tại hai điểm cầu:

Điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án.

Điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gồm: Bị cáo, Thư ký, Cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ đối với vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Huỳnh Tam T, sinh năm: 1996 tại Đ; Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đ; CMND/CCCD/Hộ chiếu số: 075096020015; Cấp ngày 04/3/2024; Nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn) 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L và bà Nguyễn Thị Kim S; bị cáo chung sống như vợ chồng với Trần Thị Ngọc H; có 01 con, sinh năm: 2019; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 17/11/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành ra Quyết định số: 34/2022/QĐ-TA. Về việc áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời hạn 19 (mười chín) tháng (Đã chấp hành xong ngày 29/02/2024).

Bị bắt quả tang ngày 02/11/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. (Có mặt)

Người làm chứng: Anh Lê Minh K, sinh năm: 2000.

Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh B

Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Đ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Tam T là người nghiện ma túy. Vào khoảng 12 giờ ngày 02/11/2024, T thuê xe ôm chở đến khu vực gần Khu công nghiệp X, thị xã P, tỉnh B gặp 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy (01 gói ma túy có kích thước 7,5 x 04cm), T cất giấu trong người rồi thuê xe ôm chở về nhà tại ấp C, xã P, huyện L. Đến khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 02/11/2024. Khi T đang đứng nói chuyện với Lê Minh K tại đoạn đường liên ấp thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Đ thì bị lực lượng công an xã P, huyện L kiểm tra hành chính phát hiện T cất giấu gói ma túy trong túi quần bên phải, đã lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số: 2245/KL-KTHS ngày 09/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,6192 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số: 37/CT-VKSLT ngày 20 tháng 01 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố Huỳnh Tam T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Tam T về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng như Cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tam T mức án từ 18 (mười tám) đến 20 (hai mươi) tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tam T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tam T đã khai nhận. Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/11/2024, tại ấp Long Phú, xã P, huyện L, tỉnh Đ. Bị cáo có hành vi cất giữ trong người 0,6192 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an xã P, huyện L, tỉnh Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo trùng khớp lời khai ban đầu, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án.

Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Tam T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bản thân bị cáo có tiền sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo T mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.

Quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và có căn cứ pháp luật nên được ghi nhận.

Đối với phần trình bày của bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa.

Đối với người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho bị cáo T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo, phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng Hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.

Biện pháp tư pháp:

Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 2245/KL-KTHS ngày 09/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ. (Chi cục thi hành án dân sự huyện L đang tạm giữ, tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/01/2025).

Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Huỳnh Tam T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 269, Điều 298, Điều 299, Điều 326, Điều 327, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tam T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1- Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tam T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt quả tang ngày 02/11/2024.

Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 2245/KL-KTHS ngày 09/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ.

(Chi cục thi hành án dân sự huyện L đang tạm giữ, tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/01/2025).

2- Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Huỳnh Tam T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ