- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Ngân - Trộm cắ tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 15-08-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sô.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tống Văn Tâm;
- Ông Nguyễn Văn Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Trường, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Văn N, sinh năm 1998, tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp Cần Thuận, xã C, tỉnh A; nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định. Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 03/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn M, sinh năm 1969 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1972; bị cáo là con duy nhất trong gia đình, chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/8/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 16/9/2021 và án phí ngày 26/9/2022.
Ngày 31/3/2025, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị bắt quả tang, bị tạm giữ, sau đó chuyển qua tạm giam từ ngày 31/3/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH MTV Kỳ Nghệ; trụ sở: Khu phố Hóa Nhựt, phường Tân Khánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố 3, phường Phú Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Thanh Tuyền, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khóm Thượng 1, xã Phú Tân, tỉnh An Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đối tượng Lê Văn N không nghề nghiệp ổn định và cũng không có nơi cư trú nhất định. Do không có tiền tiêu xài nên N nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người khác lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài.
Thực hiện ý định, khoảng 02 giờ 00 phút ngày 31/3/2025, N điều khiển xe mô tô biển số 67AK-004.22 nhãn hiệu Wave đi đến tường rào phía sau của Công TNHH MTV Kỳ Nghệ, thuộc tổ 6, khu phố Hóa Nhựt, phường Tân Khánh, Thành phố Hồ Chí Minh rồi dừng xe lại, leo qua tường rào vào trong Công ty, N đi đến tủ chứa đồ, dụng cụ máy móc lấy hai máy chà nhám cầm tay, trọng lượng mỗi máy là 02kg và một đoạn dây điện chiều dài 9,5m. Sau khi lấy được tài sản, N leo qua tường rào đi ra ngoài rồi điều khiển xe mô tô tẩu thoát. Khi đang lưu thông trên đường DX10 thì bị lực lượng Công an phường Tân Khánh tuần tra phát hiện, ra hiệu yêu cầu dừng xe để kiểm tra. N liền điều khiển xe bỏ chạy, lực lượng Công an phường Tân Khánh đuổi theo bắt quả tang và đưa N về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ: 02 (hai) máy chà nhám cầm tay; 01 (một) đoạn dây điện dài khoảng 9,5 mét; 01 (một) xe mô tô biển số 67AK-004.22 nhãn hiệu Wave màu đỏ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2025, kết luận 01 máy chà nhám cầm tay nhãn Makita B04901, màu xanh (đã qua sử dụng) trị giá 1.700.000 đồng; 01 máy chà nhám cầm tay hiệu 205, ký hiệu khắc trên máy 011673, màu xám (đã qua sử dụng) trị giá 1.253.000 đồng; 01 đoạn dây điện đôi 1.5 có chiều dài 9,5m, có vỏ bọc bằng nhựa màu xám ký hiệu VCMT 4x25, (đã qua sử dụng) trị giá 95.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 3.048.000 đồng.Đối với xe mô tô biển số 67AK-004.22 nhãn hiệu Wave màu đỏ, qua tra cứu xác định được bà Đỗ Thị Thanh Tuyền, sinh năm 1987, thường trú: Khóm Thượng 1, xã Phú Tân, tỉnh An Giang đứng tên chủ sở hữu. Bà Tuyền khai nhận đã bán lại xe này cho một người thanh niên không rõ lai lịch, bán không làm thủ tục sang tên vào năm 2015. Lê Văn N khai nhận mua lại xe mô tô này của một người không rõ lai lịch, khi mua không làm giấy tờ mua bán, không làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã đăng thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn không có ai đến làm việc.
Đối với 02 (hai) máy chà nhám cầm tay và một đoạn dây điện chiều dài 9,5m là tài sản của Công ty TNHH MTV Kỳ Nghệ, ngày 09/4/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 2394 trả lại cho bà Nguyễn Thị Thùy Trang là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV Kỳ Nghệ, bà Trang không có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản Cáo trạng số 20/CT-VKSTU ngày 22 tháng 7 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn N khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung của bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đồng ý với kết luận định giá tài sản của cơ quan chuyên môn và quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại đối với hành vi và quyết định tiến hành tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, qua xét hỏi, thẩm tra và tranh luận công khai đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên nội dung quyết định truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Trộm cắp tài sản”, với giá trị tài sản chiềm đoạt là sản là 3.048.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn N mức án từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn yêu cầu xem xét xử lý vật chứng và án phí.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, thống nhất với tội danh và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày, rất ăn năn hối hận đối với hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Văn N đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 31/3/2025 bị cáo Lê Văn N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy chà nhám cầm tay nhãn Makita B04901, màu xanh (đã qua sử dụng) trị giá 1.700.000 đồng; 01 mày chà nhám cầm tay hiệu 205, ký hiệu khắc trên máy 011673, màu xám (đã qua sử dụng) trị giá 1.253.000 đồng; 01 đoạn dây điện đôi 1.5 có chiều dài 9,5m, có vỏ bọc bằng nhựa màu xám (đã qua sử dụng) trị giá 95.000 đồng của Công ty TNHH MTV Kỳ Nghệ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 3.048.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lê Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tính chất, mức độ của hành vi:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lười biếng lao động lại muốn có nhiều tiền tiêu xài mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo không những gây mất an ninh trật tự tại địa phương mà còn gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Mặc khác, bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản vào năm 2021. Lẽ ra, sau khi chấp hành xong hình phạt, được quay về bị cáo phải biết sửa đổi bản thân, lo làm ăn giúp ích cho gia đình nhưng ngược lại bị cáo lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Điều này chứng tỏ bị cáo chưa biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và chưa muốn làm người công dân lương thiện. Vì vậy, lần phạm tội này Hội đồng xét xử sẽ xử phạt bị cáo thật nghiêm để răn đe và giáo dục bị cáo biết chấp hành pháp luật, biết sống có ích cho gia đình và xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận” theo quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Năm 2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nên Hội đồng xét xử xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Về hình phạt: Mặc dù tội phạm bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nhưng như đã phân tích bị cáo có nhân thân xấu, nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự, cách ly bị cáo với xã hội bên ngoài một thời gian đủ dài để giúp bị cáo có thời gian suy nghĩ, học tập, cải tạo, biết quý sức lao động, quyền sở hữu tài sản của người khác và biết tôn trọng pháp luật. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối hận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 67AK-004.22 nhãn hiệu Wave màu đỏ, do Đỗ Thị Thanh Tuyền, đứng tên giấy chứng nhận và đã bán cho người khác nhưng do thời gian đã lâu bà Tuyền không nhớ được lai lịch người mua. Lê Văn N khai nhận mua lại xe mô tô này của một người không rõ lai lịch, khi mua không làm giấy tờ mua bán, không làm thủ tục sang tên. Đồng thời, qua tra soát xe mô tô không có trong kho vật chứng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Nội dung bản cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về tội danh và mức hình phạt là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lê Văn N 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 67AK-004.22 nhãn hiệu Wave màu đỏ; số khung RNRWCB7UMB1113092; số máy RNRHA139FMB113092 (xe không hoạt động, không bửng, không hộp số).
(Theo Biên bản giao đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/8/2025, giữa Phòng Thi hành án dân sự khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Về án phí hình sự: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND TP Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh; - Phòng PV 06; PC 10; PC11 Công an TP Hồ Chí Minh; - THADS TP Hồ Chí Minh; - Phòng THADS KV 17 - TPHCM; - Bị cáo và người TGTT; - Lưu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sô |