vanban.org

Bản án 36/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Vũ Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Xử phạt: Bị cáo Vũ Minh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST
Ngày: 20 -01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Lam

Ông Trần Sóng Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 31/12/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Minh T, Giới tính: Nam; sinh năm 1994 tại Đồng Nai. CCCD số 075094020971.

Nơi cư trú: ấp 4, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Họ tên cha: Vũ Văn Trọng – không rõ năm sinh; họ tên mẹ: Vũ Thị Nga – sinh năm 1958. Bị cáo là con út trong gia đình có 08 anh chị em, chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 13/6/2019, Vũ Minh T bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo T đã chấp hành xong bản án ngày 08/01/2020.

Ngày 24/4/2024, Vũ Minh T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 19.000.000 đồng, Ngày 29/10/2024, T bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

Ngày 22/4/2024, 25/4/2024; 03/5/2024 Vũ Minh T thực hiện hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và Cướp giật tài sản. Ngày 25/11/2024, T bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của ba tội là 04 (bốn) năm tù. Ơ

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Thống Nhất từ ngày 08/6/2024 đến nay.

(Có mặt).

- Bị hại:

+ Ông Phạm Biên T, sinh năm 1983 và bà Ngô Thị L, sinh năm 1984; Cùng nơi thường trú: Xã Sơn T, huyện T, tỉnh Phú Yên; Cùng nơi cư trú: Ấp 2, xã L, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

(Vắng mặt).

+ Cháu Lê Thành H, sinh năm 2014; Nơi cư trú: Số 525, tổ 6, khu phố T, thị trấn D, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo pháp luật của cháu Hải: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Số 525, tổ 6, khu phố T, thị trấn D, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Hồ Thị Xuân Chi – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đồng Nai.

(Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Vũ Minh N, sinh năm 1992 và chị Nguyễn Thị Tiểu L, sinh năm 1995; Cùng nơi thường trú: Ấp 4, xã L, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai;

(Vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Số 444/10, khu phố L, thị trấn D, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt).

+ Anh Phạm Ngô V, sinh năm 2005; Nơi thường trú: Xã Quỳnh B, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Ấp 2, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Minh T là đối tượng nghiện ma túy, T thực hiện một loạt các hành vi trộm cắp tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cướp giật tài sản trên địa bàn hai huyện Trảng Bom và huyện Thống Nhất. Tại huyện Thống Nhất, T đã thực hiện 01 vụ Trộm cắp tài sản và 01 vụ Cướp giật tài sản. Ngày 08/6/2024, T bị Công an huyện Thống Nhất giữ khẩn cấp khi đang mang tài sản đi tiêu thụ, cụ thể: Ơ

Tối ngày 24/02/2023, Vũ Minh T điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen (không rõ biển số) đi đến quán ăn của anh Phạm Biên Thùy, sinh năm 1983 tại ấp 2, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai để mua đồ ăn. Tại đây T phát hiện 02 điện thoại di động, gồm 01 điện thoại iphone 6s của ông Thùy đang sạc pin và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54 của bà Ngô Thị Lan để trên quầy bếp nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lợi dụng anh Phạm Ngô Văn, sinh năm 2005 không chú ý quan sát, T đã lén lút lấy trộm 02 chiếc điện thoại di động kể trên rồi tẩu thoát. Trên đường về, T đã bán 02 điện thoại vừa trộm được với giá 1.000.000 đồng, sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Vào tối ngày 07/6/2024, Vũ Minh T điều khiển xe mô tô Suzuki Satria màu xanh biển số 60B9 – 662.25 đi từ nhà ở xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đến khu vực khu phố Trần Hưng Đạo, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tìm kiếm tài sản người dân có sơ hở để trộm cắp. Đến 20 giờ 40 phút, T phát hiện trong quán ăn của chị Nguyễn Thị Thu Hà, sinh năm 1976 thuộc khu phố Trần Hưng Đạo, thị trấn Dầu Giây có 01 cháu bé tên Lê Thành Hải, sinh năm 2014 (con trai chị Hà) đang nằm võng sử dụng điện thoại hiệu Xiaomi Redmi Note 12 một mình, không có người lớn xung quanh nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. T dựng xe máy Suzuki Satria dưới lòng đường phía trước cửa quán, nổ máy sẵn rồi đi bộ vào giả vờ hỏi cháu Hải “có mẹ ở đó không làm cho chú tô hủ tiếu” để tiếp cận cháu Hải, sau đó dùng tay giật chiếc điện thoại Xiaomi Redmi Note 12 trên tay cháu Hải rồi bỏ chạy ra xe tẩu thoát.

Chiều ngày 08/6/2024, Vũ Minh T đến cửa hàng điện thoại Phúc Bảo ở khu phố Lập Thành, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất để tiêu thụ tài sản thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất kiểm tra, giữ khẩn cấp đối với T. Quá trình điều tra, Vũ Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên (bút lục số 194 – 207).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Minh T ở ấp 4, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, thu giữ 01 quần dài T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, 01 giỏ xách màu đen có chữ JIN YUANLI và 01 điện thoại LG G8 ThinQ màu xám (bút lục số 105 – 106).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 561/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Thống Nhất kết luận: 01 điện thoại di động hiệu iphone 6s, màu trắng, dung lượng 64Gb đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 1.600.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54 màu xanh, ram 4Gb, dung lượng 128gb đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 2.100.000 đồng (bút lục số 112 – 117)

Tại bản kết luận định giá tài sản số 927/KL-HĐĐGTS ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Thống Nhất kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12, bộ nhớ trong 256Gb, Ram 08Gb + 04Gb màu bạc, đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 1.600.000 đồng (bút lục số 118 – 122)

Xử lý vật chứng vụ án:

- 01 USB hiệu Kingston, dung lượng 16Gb; 01 USB màu vàng dung lượng 32 Gb lưu trữ dữ liệu hình ảnh quá trình Vũ Minh T thực hiện hành vi phạm tội, cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án. Ơ

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12, bộ nhớ trong 256Gb, Ram 8Gb + 4Gb, màu bạc là tài sản của bà Nguyễn Thị Thu H (mẹ cháu Lê Thành H), Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả cho bà Hà (bút lục số 251).

- 02 điện thoại hiệu Samsung A11 màu xanh và SamSung A14 màu bạc và 01 giỏ xách màu đen có chữ JIN YUANLI do Vũ Minh T chiếm đoạt được ở khu vực địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai vào ngày 07/6/2024, Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã giao cho Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom điều tra, xử lý theo thẩm quyền (bút lục số 257).

- 01 xe mô tô biển số 60B9 - 662.25 hiệu Suzuki Satria màu trắng xanh. Quá trình điều tra xác định xe mô tô kể trên thuộc quyền sở hữu của Vũ Minh Nhất, sinh năm 1992, trú tại ấp 2, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Việc T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội anh Nhất không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trao trả tài sản cho Vũ Minh Nhất (bút lục 264 – 270)

- 01 điện thoại di động hiệu TECHNO CAMON 20 màu xanh và 01 điện thoại LG G8 ThinQ tạm giữ từ Vũ Minh T. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trao trả tài sản cho bị cáo Vũ Minh T (bút lục 255 – 256).

- 01 điện thoại di động hiệu iphone 6s, màu trắng, dung lượng 64Gb và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54 màu xanh do Vũ Minh T trộm cắp được tại quán ăn của anh Phạm Biên Thùy, sinh năm 1983 tại ấp 2, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai vào ngày 24/02/2023, T đã bán cho một người trên đường, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã thông báo truy tìm, hiện chưa có kết quả (bút lục số 263).

- 01 quần dài của Vũ Minh T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy (bút lục số 103).

Về trách nhiệm dân sự:

- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1976 ở khu phố Trần Hưng Đạo, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đã nhận lại tài sản là 01 điện thoại Redmi 12, bà Hà không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Ông Phạm Biên T, sinh năm 1983 và bà Ngô Mai L, sinh năm 1984 cùng trú tại ấp 2, xã L, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai yêu cầu Vũ Minh T bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại lần lượt là 1.600.000 đồng và 2.100.000 đồng, hiện Vũ Minh T chưa thực hiện (bút lục 216 – 217).

Tại Cáo trạng số 133/CT-VKS.TN ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Vũ Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tại khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự; xử phạt bị Ơ cáo Vũ Minh T 12 (mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù. Đồng thời tổng hợp hình phạt trong vụ án này và bản án số 281/2024/HSST ngày 29/10/2024 và Bản án số 298/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý về vật chứng vụ án, giải quyết phần dân sự trong vụ án, án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 22 giờ ngày 24/02/2023, tại quán ăn lẩu cua đồng ở ấp 2, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Vũ Minh T lén lút trộm cắp 02 điện thoại di động hiệu iphone 6s, màu trắng, dung lượng 64Gb trị giá 1.600.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54 màu xanh dung lượng 128Gb, trị giá 2.100.000 đồng, sau đó bán được số tiền 1.000.000 đồng đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Vào lúc 20 giờ ngày 07/6/2024, tại quán ăn của chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1976 ở khu phố Trần Hưng Đạo, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Vũ Minh T sử dụng xe mô tô Suzuki Satria màu xanh biển số 60B9 – 662.25 thực hiện hành vi cướp giật tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12 màu xanh từ cháu bé tên Lê Thành H, sinh năm 2014, sau đó tẩu thoát. Quá trình tiêu thụ tài sản đã bị Công an huyện Thống Nhất phát hiện, bắt giữ, xử lý theo quy định. Ơ

Như vậy, hành vi của Vũ Minh T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 133/CT-VKS.TN ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Vũ Minh T về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.

3 Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo T là đối tượng có nhân thân xấu, đã thực hiện hàng loạt hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo T đã từng bị xét xử về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Trộm cắp tài sản” “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Cướp giật tài sản”. Những hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo thể hiện bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật. Do đó cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

4Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: do bị cáo hiện không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

6Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Ông Phạm Biên T, sinh năm 1983 và bà Ngô Mai L, sinh năm 1984 cùng trú tại ấp 2, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai yêu cầu Vũ Minh T bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại lần lượt là 1.600.000 đồng và 2.100.000 đồng.

7Về vật chứng vụ án:

7.1 01 USB hiệu Kingston, dung lượng 16Gb; 01 USB màu vàng dung lượng 32 Gb lưu trữ dữ liệu hình ảnh quá trình Vũ Minh T thực hiện hành vi phạm tội, cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

7.2 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12, bộ nhớ trong 256Gb, Ram 8Gb + 4Gb, màu bạc là tài sản của bà Nguyễn Thị Thu H (mẹ cháu Lê Thành H), Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả cho bà Hà là đúng quy định.

7.3 02 điện thoại hiệu Samsung A11 màu xanh và SamSung A14 màu bạc và 01 giỏ xách màu đen có chữ JIN YUANLI do Vũ Minh T chiếm đoạt được ở khu vực địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai vào ngày 07/6/2024, Cơ quan Ơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã giao cho Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

7.4 01 xe mô tô biển số 60B9 - 662.25 hiệu Suzuki Satria màu trắng xanh. Quá trình điều tra xác định xe mô tô kể trên thuộc quyền sở hữu của Vũ Minh Nh, sinh năm 1992, trú tại ấp 2, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Việc T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội anh Nhất không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trao trả tài sản cho Vũ Minh Nhất là phù hợp.

7.5 01 điện thoại di động hiệu TECHNO CAMON 20 màu xanh và 01 điện thoại LG G8 ThinQ tạm giữ từ Vũ Minh T. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trao trả tài sản cho bị cáo Vũ Minh T là đúng quy định.

7.6 01 điện thoại di động hiệu iphone 6s, màu trắng, dung lượng 64Gb và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54 màu xanh do Vũ Minh T trộm cắp được tại quán ăn của anh Phạm Biên T, sinh năm 1983 tại ấp 2, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai vào ngày 24/02/2023, T đã bán cho một người trên đường, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã thông báo truy tìm, hiện chưa có kết quả (bút lục số 263).

7.7 01 quần dài của Vũ Minh T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy (bút lục số 103).

Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Các vấn đề khác: Liên quan trong vụ án, ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1986, chủ cửa hàng điện thoại di động Phúc Bảo ở khu phố Lập Thành, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đã mua điện thoại di động hiệu Redmi 12 từ Vũ Minh T với giá 1.700.000 đồng. Ông V không biết đây là tài sản do T phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý. Ông V đã tự nguyện giao nộp tài sản trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất xử lý và không yêu cầu bị cáo Vũ Minh T bồi thường

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự (được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Vũ Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Ơ

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự (được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Vũ Minh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Căn cứ Điều 55 Bộ Luật hình sự (được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 05 (năm) năm

tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2024.

Áp dụng Điều 56 Bộ Luật hình sự (được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tổng hợp hình phạt của bản án đang bị xét xử với hình phạt 04 (bốn) năm tù về các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự số 298/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 và 01 (một) năm tù về tội : “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 281/2024/HS – ST ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Buộc bị cáo Vũ Minh T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại bà Ngô Thị L 2.100.000đ (hai triệu một trăm nghìn đồng). Buộc bị cáo bồi thường cho ông Phạm Biên T số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 của Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

01 USB hiệu Kingston, dung lượng 16Gb; 01 USB màu vàng dung lượng 32 Gb lưu trữ dữ liệu hình ảnh quá trình Vũ Minh T thực hiện hành vi phạm tội, cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Tịch thu tiêu hủy 01 quần dài của Vũ Minh T khi thực hiện hành vi phạm tội.

(Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/11/2024 của Công an huyện Thống Nhất và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất). Ơ

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vũ Minh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Vũ Minh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đồng Nai;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Thống Nhất;

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- Cơ quan CSĐT Công an huyện Thống Nhất;

- Đội THAHS và hỗ trợ tư pháp CA huyện Thống Nhất;

- Chi cục THADS huyện Thống Nhất;

- Bị cáo; Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Hoàng Thị Lan Ơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ