- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vy Hồng Phúc - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vy Hồng P phạm tội "Cướp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 09 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trung Thành
2. Bà Trần Thị Kim Khuyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Nga- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Vy Hồng P, sinh ngày 18/3/1999; tại thôn K, xã Đ, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã Đ, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vy Văn T và bà Lường T; Vợ: Nguyễn Thị T, con: 01 sinh năm 2023. Tiền sự: Không.
Tiền án: 01. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17 ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tháng 7/2023, đã nộp xong 200.000 đồng án phí HSST. Tháng 10/2024, chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ. Đến nay chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2024 hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Lập Thạch- Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Phúc: Ông Lê Văn Duy- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Người bị hại: Chị Trịnh Xuân G, sinh năm 1976; trú tại: Thôn Trung T, xã T, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1995; trú tại: Khu 4, xã T, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
- Anh Hoàng Ngọc T, sinh năm 1986; trú tại: Khu 14, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
- Anh Trần Đức T, sinh năm 1995; trú tại: Khu 14, xã T, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
- Chị Vũ Phương T, sinh năm 1996; trú tại: Phòng 2032 CT12B Khu đô thị K, Phường Đ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; trú tại: Khu 3, xã H, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 01/11/2024, Vy Hồng P, sinh năm 1999 ở khu 3, xã H, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ bắt xe ô tô khách từ nhà xuống thành phố Hà Nội xin việc làm, đến khoảng 16 giờ cùng ngày, P không xin được việc làm nên bắt xe ô tô khách từ thành phố Hà Nội, để về nhà. Do P trả thiếu tiền xe nên chủ xe chỉ cho P đi đến Km41 đường Cao tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc địa phận thôn S, xã V, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc lúc này vào khoảng 18 giờ cùng ngày. Tại đây, P bắt đầu nảy sinh ý định cướp tài sản của người dân để có tiền. Lúc này, P quan sát thấy chị Trịnh Xuân G, sinh năm 1976 ở thôn T, xã T, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đang một mình tay cầm điện thoại di động và đeo túi xách trên vai, đứng đợi bắt xe ở làn khẩn cấp gần nút giao IC6 V. P đi lại gần dùng hai tay bóp cổ, bịt mồm, bịt mắt chị G, hai chân P ghì vào người chị G đẩy chị G qua lan can đường nằm xuống bụi cỏ ngoài lòng đường, lúc này chị G hoảng sợ không dám phản kháng thì P tay phải lấy chiếc điện thoại di động Iphone 13 Pro max màu xám trên tay phải chị G đang cầm đồng thời tay trái P kéo và lấy chiếc túi xách chị G đang đeo trên vai trái. Sau đó, P bỏ đi về hướng thành phố Hà Nội cách khoảng 01km P vào bụi cỏ ven đường kiểm tra bên trong túi xách lấy được số tiền 20.800.000 đồng còn chiếc túi xách đựng giấy tờ liên quan P vứt lại tại đây. Sau đó, P bắt xe ô tô khách quay lại thành phố Hà Nội, rồi đi đến một cửa hàng sửa chữa điện thoại cũ gặp một người đàn ông không xác định tên tuổi, địa chỉ thuê phá mật khẩu, xóa dữ liệu và chạy lại phần mềm chiếc điện thoại của chị G rồi P bắt xe ô tô khách quay về nhà ở tỉnh Phú Thọ. Chiều ngày 02/11/2024, P bán chiếc điện thoại của chị G cho anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1995 ở cùng huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ được 11.000.000 đồng. Số tiền, tài sản cướp được của chị G, P đưa vợ là chị Nguyễn Thị T 9.500.000 đồng, còn số tiền 22.300.000 đồng P một mình tiêu sài cá nhân hết.
Ngay sau khi chị G bị P chiếm đoạt tài sản đã có đơn tố giác đến cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan công an đã thu giữ hiện trường: 01 chiếc túi giả da và các đồ vật có liên quan của chị Giang.
Đến ngày 14/11/2024, cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lập Thạch đã triệu tập P đến làm việc, P đã tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng - trắng; 01 chiếc áo thun dài tay loại cổ tròn màu xám; 01 quần dài màu đen, có 02 túi trước chéo, phía sau có 02 túi; 01 đôi dép da có chữ Gucci; 01 áo cộc tay có cổ màu xanh đen, trước ngực có in chữ LINGING màu trắng; 01 quần đùi màu đen tất cả đều cũ đã qua sử dụng.
Đối với chiếc điện thoại di động N khai sau đó đã bán lại cho anh Hoàng Ngọc T, sinh năm 1986 ở Khu 14, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; anh T bán lại cho anh Trần Đức T, sinh năm 1995 ở Khu 14, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ; anh T bán lại cho chị Vũ Phương T, sinh năm 1996 ở phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Chị T đã tự nguyện giao nộp để phục vụ điều tra vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 75 ngày 13/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lập Thạch, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax, màu xám của chị G có trị giá 16.390.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 79 ngày 26/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lập Thạch, kết luận: 01 chiếc túi 01 quai màu nâu mặt trước có chữ IVY, gắn chiếc kẹp tóc màu nâu trị giá 55.000 đồng; Bên trong có các tài sản gồm 01 lọ mỹ phẩm màu cam có chữ “Avène” trị giá 10.000 đồng; 01 lọ lăn khử mùi chữ Enchanteur trị giá 5.000 đồng; 01 vỉ thuốc loại Levothyrox 50ug trị giá 5.000 đồng; 01 thỏi son có dòng chữ “flormar” trị giá 5.000 đồng; 01 lọ nhựa màu xanh có dòng chữ “AQUALABEL” trị giá 10.000 đồng; 01 lọ thủy tinh trên có dòng chữ: “POSEDO” trị giá 5.000 đồng; 01 lọ nắp nhựa màu hồng, bên trong có các hạt màu hồng trị giá 5.000 đồng. Tổng tài sản trị giá 100.000 đồng.
* Tại bản kết luận giám định kỹ thuật số điện tử số 3834 ngày 31/12/2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận đối với nguồn video thu giữ tại cửa hàng điện thoại anh Nguyễn Văn N: Trích xuất được 14 hình ảnh Vy Hồng P đang giao dịch bán điện thoại cướp được của chị G cho anh N chiều ngày 02/11/2024, phù hợp với lời khai và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 28/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố bị cáo Vy Hồng P về tội “Cướp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đề nghị giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vy Hồng P phạm tội "Cướp tài sản"; áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Vy Hồng P từ 04 năm 09 tháng tù đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/11/2024. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:
- Bị cáo P đã tác động gia đình là chị T sử dụng tiền tích cóp của hai vợ chồng tự nguyện bồi thường cho chị G số tiền 20.800.000 đồng. Chị G đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì khác. Chị T cũng không yêu cầu đề nghị gì.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo thun dài tay loại cổ tròn màu xám; 01 quần dài màu đen, có 02 túi trước chéo, phía sau có 02 túi; 01 đôi dép da có chữ Gucci; 01 áo cộc tay có cổ màu xanh đen, trước ngực có in chữ LINGING màu trắng; 01 quần đùi màu đen của P do P đề nghị không nhận lại.
- Trả lại cho P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng - trắng.
Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Về hình phạt: Bị cáo mặc dù phạm tội lần này là tái phạm, tuy nhiên đã thành khẩn khai báo, tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức và hiểu biết về pháp luật có phần hạn chế, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức án 04 năm 08 tháng đến 04 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai và vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vy Hồng P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, bị cáo khai nhận:
Xuất phát từ động cơ, mục đích tư lợi để có tiền tiêu sài cá nhân, nên khoảng 18giờ ngày 01/11/2024, tại nút giao IC6 trên đường cao tốc thuộc địa phận thôn S, xã V, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, chị Trịnh Xuân G khi đang đứng đợi bắt xe ô tô khách tại làn khẩn cấp thì bị Vy Hồng P có hành vi dùng vũ lực bằng tay, chân bóp cổ ghì chị G xuống bụi cỏ ven đường cao tốc làm chị G hoảng sợ không dám kháng cự. Sau đó, P đã chiếm đoạt tài sản của chị G: số tiền 20.800.000 đồng; 01 điện thoại di động trị giá 16.390.000 đồng và 01 số vật chứng vật chứng liên quan khác trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản P chiếm đoạt của chị G là 37.290.000 đồng.
. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vy Hồng P đã phạm vào tội “Cướp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Điều 168 Bộ luật Hình sự quy định:
‘‘1. Người nào dùng vũ lực … ngay tức khắc … làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.’’
. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt tù giam thật nghiêm minh đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo đã có 01 tiền án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ, đã chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ nhưng đến nay chưa được xóa án tích. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Mặc dù đã bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục sa đà vào con đường phạm tội, thực hiện hành vi phạm tội liều lĩnh, táo bạo, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải phạt tù giam bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tính giáo dục và phòng ngừa.
Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức và hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội.
. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
- Bị cáo P đã tác động gia đình là chị T sử dụng nguồn tiền tích cóp của hai vợ chồng để tự nguyện bồi thường cho chị G số tiền 20.800.000 đồng. Chị G nhận đủ tiền, tài sản và không có đề nghị gì về dân sự; chị T cũng không đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Anh Nguyễn Văn N, anh Hoàng Ngọc T, anh Trần Đức T, chị Vũ Phương T đã tự thỏa thuận trả lại tiền cho nhau xong và không có đề nghị gì trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với số tiền 9.500.000đ, bị cáo P đưa vợ là chị Nguyễn Thị T, quá trình điều tra xác định khi đưa tiền cho chị T thì P không nói số tiền đó do phạm tội mà có, do vậy chị T không biết. Nên cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý đối với chị T là phù hợp.
- Đối với thương tích của chị Trịnh Xuân G: Chị G chỉ bị thương tích nhẹ. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lập Thạch đã trưng cầu giám định thương tích nhưng chị G có đơn từ chối giám định thương tích và không đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 ProMax, 01 chiếc túi, 01 chiếc kẹp tóc, 01 lọ mỹ phẩm, 01 lọ lăn khử mùi, 01 vỉ thuốc, 01 thỏi son, 01 lọ nhựa, 01 lọ thủy tinh, 01 lọ nắp nhựa, là tài sản hợp pháp của chị Trịnh Xuân G. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lập Thạch đã trả lại cho chị G, nhận lại tài sản, chị G không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 chiếc áo thun dài tay loại cổ tròn màu xám; 01 quần dài màu đen, có 02 túi trước chéo, phía sau có 02 túi; 01 đôi dép da có chữ Gucci; 01 áo cộc tay có cổ màu xanh đen, trước ngực có in chữ LINGING màu trắng; 01 quần đùi màu đen của P, P không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng - trắng của P không liên quan đến thực hiện hành vi phạm tội, cần trả lại cho P.
. Về án phí: Bị cáo Vy Hồng P là người dân tộc thiểu số điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vy Hồng P phạm tội "Cướp tài sản".
Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vy Hồng P 04 (Bốn) năm 10 (Mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 15/11/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản khoản 1 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc áo thun dài tay loại cổ tròn màu xám; 01 quần dài màu đen, có 02 túi trước chéo, phía sau có 02 túi; 01 đôi dép da có chữ Gucci; 01 áo cộc tay có cổ màu xanh đen, trước ngực có in chữ LINGING màu trắng; 01 quần đùi màu đen của P.
- Trả lại Vy Hồng P 01 điện thoại di động nhãnhiệu Iphone màuvàng - trắng.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện Lập Thạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).
Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vy Hồng P được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - CQCS điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Lập Thạch; - Chi cục THADS huyện Lập Thạch; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Hoàng Thị Quỳnh |