vanban.org

Bản án 36/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Tuyết H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Tuyết H được ly hôn với ông Huỳnh Quốc T. Về con chung: có 02 con chung là Huỳnh Ngọc Y (nữ); sinh ngày 30/6/2010 và Huỳnh Gia P (nam); sinh ngày 24/8/2014. Giao con là Huỳnh Ngọc Y cho bà Trần Thị Tuyết H nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa bà Trần Thị Tuyết H và ông Huỳnh Quốc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Tuyết H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3- CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21-8-2025
V/v tranh chấp: “Ly hôn và nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Thành

Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh Nhung- Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3- Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Trung Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại Toà án nhân dân Khu vực 3- Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 127/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 và Thông báo xét xử sở thẩm số 153/TBXX-ST ngày 08/8/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết H; sinh năm 1992. HKTT: Tổ 5, ấp D, xã V, tỉnh An Giang. Điện thoại: xxxxxxxxxx (Có yêu cầu giải quyết mặt).

Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc T; sinh năm: 1988. Địa chỉ: B đường B, Khu dân cư P, khu vực T, phường H, thành phố Cần Thơ. Điện thoại: xxxxxxxxxx. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 08/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị Tuyết H cho rằng:

Bà và ông Huỳnh Quốc T sau khi quen biết, tìm hiểu được khoảng 01 năm thì tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã V, tỉnh An Giang) vào ngày 06/9/2011.

Sau khi chung sống khoảng vài năm, do bất đồng quan điểm sống và bất đồng trong cách quản lý kinh tế nên vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, thường cự cãi nhau. Mâu thuẫn ngày càng gay gắt, đến tháng 11/2024, bà trở về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay.

Trong thời gian ly thân, bà đã suy nghĩ kỹ, hiện tại vợ chồng không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống các bên sau này.

Về con chung: có 02 con chung là Huỳnh Ngọc Y (nữ); sinh ngày 30/6/2010 và Huỳnh Gia P (nam); sinh ngày 24/8/2014.

Cháu Huỳnh Ngọc Y hiện đang sống chung với bà tại Tổ E, ấp D, xã V, tỉnh An Giang (G, Kiên Giang cũ). Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Huỳnh Ngọc Y.

Còn Huỳnh Gia P đang sống chung với ông Huỳnh Quốc T tại nhà số B đường B, Khu dân cư P, khu vực T, phường H, thành phố Cần Thơ. Bà giao cháu P cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là Huỳnh Gia P 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng)/tháng, kể từ khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực đến khi cháu Gia P đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: không có. Về nợ chung: không có.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Huỳnh Quốc T vắng mặt.

Sau khi thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết, Toà án đưa vụ kiện ra xét xử công khai.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy: bà Trần Thị Tuyết H yêu cầu ly hôn, còn ông T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không đưa ra ý kiến thể hiện mong muốn hàn gắn đoàn tụ lại; hơn nữa, từ khi ly thân đến nay vẫn không có động thái nào để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ lại nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà H được ly hôn với ông T.

+ Về con chung: có 02 con chung là Huỳnh Ngọc Y (nữ); sinh ngày 30/6/2010 và Huỳnh Gia P (nam); sinh ngày 24/8/2014.

Đề nghị giao con là Huỳnh Ngọc Y cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là cháu Y nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đề nghị giao con là Huỳnh Gia P cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng và ghi nhận việc bà H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là Huỳnh Gia P 2.500.000đ/tháng, kể từ khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực đến khi cháu Gia P đủ 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom con chung cho bà H và ông T theo quy định pháp luật.

+ Về tài sản chung và nợ: Bà H cho rằng không có; tuy nhiên, do ông T vắng mặt và hiện tại chưa có ai có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết nên chưa giải quyết. Khi nào có ai khởi kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Trần Thị Tuyết H và ông Huỳnh Quốc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, mặc dù quan hệ hôn nhân của ông bà xác lập trên cơ sở tự nguyện, xuất phát từ tình yêu của hai bên. Tuy nhiên, sau khi chung sống thì cả hai xảy ra bất đồng quan điểm, không còn có sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau; lẽ ra, cả hai vợ chồng phải cùng nhau dung hòa những bất đồng này, nhường nhịn lẫn nhau và cùng nhau phát triển kinh tế gia đình để xây dựng hôn nhân tiến bộ và bền vững nhưng ông bà không làm được điều đó nên dẫn đến hôn nhân đỗ vở là điều tất yếu. Nay bà H yêu cầu yêu cầu ly hôn, còn ông T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không đưa ra ý kiến thể hiện có nguyện vọng hàn gắn đoàn tụ lại; bên cạnh đó, xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân đến nay, ông T vẫn không có động thái nào để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ lại. Vì vậy, thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Trần Thị Tuyết H được ly hôn với ông Huỳnh Quốc T là phù hợp.

Về con chung: có 02 con chung là Huỳnh Ngọc Y (nữ); sinh ngày 30/6/2010 và Huỳnh Gia P (nam); sinh ngày 24/8/2014. Thấy rằng, để đảm bảo về mặt tinh thần và điều kiện chăm sóc con, cần giao con là Huỳnh Ngọc Y cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là cháu Y nên ghi nhận.

Cần giao con là Huỳnh Gia P cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng và ghi nhận việc bà H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là Huỳnh Gia P 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng)/tháng, kể từ khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực đến khi cháu Gia P đủ 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom con chung cho bà H và ông T theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ: Bà H cho rằng không có; tuy nhiên, do ông T vắng mặt và hiện tại chưa có ai có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết nên chưa giải quyết. Khi nào có ai khởi kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà H phải chịu 300.000đ án phí tranh chấp hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân gia đình.

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Tuyết H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Tuyết H được ly hôn với ông Huỳnh Quốc T.

2. Về con chung: có 02 con chung là Huỳnh Ngọc Y (nữ); sinh ngày 30/6/2010 và Huỳnh Gia P (nam); sinh ngày 24/8/2014. Giao con là Huỳnh Ngọc Y cho bà Trần Thị Tuyết H nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu Y.

Giao con là Huỳnh Gia P cho ông Huỳnh Quốc T nuôi dưỡng.

Bà Trần Thị Tuyết H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là Huỳnh Gia P 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng)/tháng, kể từ khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực đến khi cháu Gia P đủ 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom con chung cho bà H và ông T theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ: Chưa giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Tuyết H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí về tranh chấp hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0001624 ngày 02/6/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3- Cần Thơ. Bà H đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết đối với nguyên đơn và bị đơn; các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ