vanban.org

Bản án 36/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của ông Chau S.

Về hôn nhân: Ông Chau S được ly hôn với bà Néang N Giấy chứng nhận kết hôn số 108, ngày 21/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Chau S và bà Néang N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của ông Chau S.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/4/2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Minh Huyền

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý;

2. Ông Nguyễn Lê Bảo Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Ngọc Trân, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 403/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 09/4/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Chau S, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ 24, ấp Phước Thọ, xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (có mặt);

2. Bị đơn: Bà Néang N, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ 24, ấp Phước Thọ, xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (vắng mặt);

3. Người làm chứng: Ông Chau M; địa chỉ: Ấp Phước Thọ, xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn tỉnh An Giang (vắng mặt);

4. Người phiên dịch: Ông Chau Kim S ; địa chỉ: Ấp Phnôm Pi, xã Châu Lăng, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được tại Tòa án ông Chau S trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2016 ông và bà N quen biết nhau do tự tìm hiểu nên năm 2016 thì chúng tôi có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn số 108, ngày 21/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc nhưng từ năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, luôn bất đồng trong quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 cho đến nay. Nay tình cảm không còn nên ông yêu cầu được ly hôn bà N.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự cho bị đơn bà Néang N. Tuy nhiên, bà N vẫn không tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự được.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Nguyên đơn xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

Hội đồng xét xử công bố kết quả xác minh về nơi cư trú của bà N và biên bản lấy lời khai của ông Chau M.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng, quan điểm giải quyết vụ án:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết án Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 35, Điều 68, Điều 97, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng quy định về xét xử phiên tòa sơ thẩm.

Về chấp hành pháp luật của đương sự thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, chấp hành đúng quy định tại Điều 71. Tuy nhiên bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần hai nên không thực hiện Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Chau S khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Néang N có địa chỉ tại ấp Phước Thọ, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nên thuộc tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của bị đơn và người làm chứng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà N và người làm chứng ông M. Tuy nhiên ông M đã có lời khai cho Tòa án. Xét đây là lần vắng mặt thứ hai của bà N và ông M nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người làm chứng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Vào năm 2016 ông S và bà N quen biết nhau do tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn số 108, ngày 21/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo lời khai của ông S cho rằng vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2024 nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 cho đến nay, nay tình cảm không còn ông S yêu cầu được ly hôn.

Biên bản xác minh ngày 25 tháng 12 năm 2024 tại địa phương cho biết: Bà N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, hiện tại đi làm ăn xa nhưng thỉnh thoảng có về địa phương.

Biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Chau M cho biết: Ông là cha ruột của bà N, về mâu thuẫn giữa vợ chồng của ông S và bà N là do cuộc sống khó khăn nên ông S đi làm ăn xa đôi khi có về nhà nhưng còn bà N thì không rõ đi đâu, chỉ biết hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 cho đến nay, vợ chồng cũng không có con chung.

Xét thấy, các biên bản lời khai và các biên bản xác minh, phù hợp với nhau về việc vợ chồng có mâu thuẫn chủ yếu là về tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, về kinh tế khó khăn nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân cũng khá lâu để hai bên cùng hàn gắn tình cảm nhưng cả hai cũng không thể hàn gắn lại tình cảm. Đồng thời bà N cũng không thể hiện ý kiến của bà đối với yêu cầu ly hôn, để mặc cho ông S muốn làm gì thì làm. Cho thấy cuộc sống hôn nhân vợ chồng không còn hạnh phúc.

Cho nên, tình trạng hôn nhân vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Săn theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Ông S khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân theo mức án phí không giá ngạch.

Bà N không phải chịu án phí hôn nhân.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của ông Chau S.

Về hôn nhân: Ông Chau S được ly hôn với bà Néang N

Giấy chứng nhận kết hôn số 108, ngày 21/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý

Về tài sản chung, về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Ông Chau S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012870 ngày 12/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.

Bà Néang N không phải chịu án phí hôn nhân.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ