- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê N. T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST Ngày 18-4-2025 Về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Hương
2. Ông Lê Thành Thạnh Tiến
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang: Ông Đoàn Khắc Huy - Kiểm sát viên
Trong ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê N. T, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Ấp , xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Thị P. L, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
(anh Lê N. T chị Nguyễn Thị P. L xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tố tụng nguyên đơn anh Lê N. T trình bày: Anh và chị L quen biết vào năm 20xx, tìm hiểu nhau được 6 tháng thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức cưới, khoảng một năm sau, khi chị L sắp sinh con thì anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào ngày 28/6/20xx. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung với bên gia đình anh T. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, ngoài ra chị L còn có mâu thuẫn với mẹ chồng, vợ chồng ra thuê nhà trọ sống riêng nhưng chị L không chịu được cuộc sống cực khổ, thường hay cải nhau. Vào tháng 11/20xx, chị L đã bỏ đi Bình Dương tìm việc làm, để con lại cho anh nuôi nhưng chị L không gửi tiền về nuôi con, cũng không về thăm con. Anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay không còn tình cảm, anh yêu cầu ly hôn với chị L.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê K. B, sinh ngày 29/8/20xx và Lê Ngọc K. B, sinh ngày 29/8/20xx, cháu B và cháu B hiện đang sống chung với anh T. Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/10/20xx, anh T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con, nhưng ngày 18/4/20xx, anh thay đổi yêu cầu về nuôi con, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu B và anh giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu B. Anh và chị L, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
* Quá trình tố tụng bị đơn chị Nguyễn Thị P. L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng chị L không đến Tòa án để tham dự phiên hòa giải. Đến ngày 15/4/2025 chị có văn bản ý kiến trình bày: Chị đồng ý ly hôn với anh T. Về con chung: Có 02 con chung tên Lê K. B, sinh ngày 29/8/20xx và Lê Ngọc K. B, sinh ngày 29/8/20xx, cháu B và cháu B hiện đang sống chung với anh T. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu B và chị giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu B. Chị và anh T, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không kiến nghị gì về tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê N. T và chị Nguyễn Thị P. L. Về con chung: Giao cháu Lê K. B, sinh ngày 29/8/20xx cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Ngọc K. B, sinh ngày 29/8/20xx cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T, chị L chưa yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyễn đơn anh Lê N. T, bị đơn chị Nguyễn Thị P. L có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về hôn nhân: Anh T và chị L kết hôn năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của anh T, Hội đồng xét xử nhận thấy, theo lời trình bày của anh T: Anh và chị L chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, ngoài ra chị L còn có mâu thuẫn với mẹ chồng, vợ chồng ra thuê nhà trọ sống riêng. Chị L đồng ý với yêu cầu ly hôn của anh T. Do hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của anh T, công nhận sự thuận tình ly hôn anh T và chị L là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Lê K. B, sinh ngày 29/8/2021 và Lê Ngọc K. B, sinh ngày 29/8/2021. Xét yêu cầu của anh T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu B, giao chị L nuôi dưỡng cháu B. Chị L cũng đồng ý nuôi dưỡng cháu B và giao cho anh T nuôi dưỡng cháu B. Đây là sự thỏa thuận của đương sự hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T, chị L không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét đến..
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[6] Về án phí: Anh T yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê N. T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê N. T và chị Nguyễn Thị P. L.
2. Về nuôi con: Giao cháu Lê K. B, sinh ngày 29/8/20xx cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Ngọc K. B, sinh ngày 29/8/20xx cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Anh T, chị L chưa yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.
Anh T, chị L được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; anh T, chị L và các thành viên trong gia đình không được quyền ngăn cản..
2. Về án phí: Anh Lê N. T phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình là 75.000 đồng (Bảy mươi lăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001908 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang nên được nhận lại 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Chị Nguyễn Thị P. L phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Anh T, chị L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.Tân Phú Đông; - CC.THADS H.Tân Phú Đông; - UBND xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Lắm |