- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Giã Thanh Bảo T khởi kiện xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Giã Thanh Bảo T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 8 năm 2025 V/v: “Tranh chấp về yêu cầu xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Vi Nhật Hoàng
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Tám;
Ông Đồng Minh Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xuân Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa: Ông Lê Hồng Đức - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Giã Thanh Bảo T - sinh năm: 1994;
Trú tại: B đường P, phường B (phường V, thành phố N cũ), tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Thục V - sinh năm: 1991;
Trú tại: Tổ dân phố số A, xã V (thị trấn V, huyện V cũ), tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Thái Tuấn V1 - sinh năm: 1991;
HKTT: Thôn P, xã V (xã V, huyện V cũ), tỉnh Khánh Hòa.
Chỗ ở hiện nay: Đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam X – Bộ C; địa chỉ: Thôn P, xã X, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt, nguyên đơn ông Giã Thanh Bảo T trình bày:
Ông và bà Phạm Thị Thục V tự nguyện yêu thương, về sống chung với nhau, sau đó đã đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N (nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 131, ngày 18/12/2024.
Trong thời gian chung sống với nhau, cả hai có 01 (một) con chung được sinh ra vào ngày 16/7/2024 tại Bệnh viện Q, dự kiến đặt tên Giã Bảo H. Đứa bé được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa bà V và ông Thái Tuấn V1, thời điểm này bà V và ông V1 đang sống ly thân, không còn chung sống với nhau nữa, bà V cũng đang làm thủ tục ly hôn với ông V1 tại Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa và đến ngày 25/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã xét xử vụ án “Ly hôn” giữa bà V với ông V1. Vì ông và bà V có con trong thời kỳ hôn nhân giữa bà V và ông V1 nên ông, bà không thể làm giấy khai sinh cho cháu H được.
Sau đó, ông đã thực hiện việc xét nghiệm ADN; Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 20/12/2024 thể hiện cháu Giã Bảo H – tên dự kiến là con của ông.
Do đó, ông yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 4 – Khánh Hòa xác định cháu Giã Bảo H (tên dự kiến) – sinh ngày 16/7/2024 là con ruột của ông.
* Tại biên bản lấy lời khai và đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt, bị đơn bà Phạm Thị Thục V trình bày: Năm 2024, bà và ông Giã Thanh Bảo T sống chung với nhau như vợ chồng và có chung 01 con gái, dự kiến đặt tên Giã Bảo H – sinh ngày 16/7/2024. Khi liên hệ chính quyền địa phương để làm giấy khai sinh cho cháu H và xác định trong giấy khai sinh cha là ông Giã Thanh Bảo T nhưng không được chấp nhận. Bà xác định cháu Giã Bảo H – sinh ngày 16/7/2024 là con của ông Giã Thanh Bảo T, đã có kết quả xét nghiệm ADN làm chứng. Nay ông Giã Thanh Bảo T yêu cầu xác định con cho cha, bà đồng ý yêu cầu của ông T, không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
* Tại biên bản lấy lời khai và đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt (có xác nhận của Trại Giam X – Bộ C); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thái Tuấn V1 trình bày:
Ông và bà Phạm Thị Thục V trước đây có quan hệ vợ chồng. Năm 2020, ông phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam X – Bộ C, tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk) hình phạt 14 năm. Trong thời gian ông chấp hành án thì bà V có quan hệ với người đàn ông khác và có một người con chung. Ông xác định đứa con này không phải con chung giữa ông và bà Phạm Thị Thục V.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Khánh Hòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền xét xử: Ông Giã Thanh Bảo T yêu cầu xác định cha cho con đối với bị đơn bà Phạm Thị Thục V; bà V cư trú tại Tổ dân phố số A, xã V (thị trấn V, huyện V cũ), tỉnh Khánh Hòa nên căn cứ theo khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà V, ông V1.
Về nội dung:
Căn cứ các biên bản lấy lời khai cùng đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Phạm Thị Thục V có quan hệ hôn nhân với ông Thái Tuấn V1 từ năm 2012 đến tháng 9/2024. Quá trình chung sống, ông V1 và bà V có 01 con chung là Thái Phạm Linh P – sinh ngày 15 tháng 9 năm 2012.
Do ông Thái Tuấn V1 chấp hành án phạt tù tại Trại giam X – Bộ C nên ông V1 và bà V không chung sống với nhau, tình cảm không còn nên bà V đã gửi đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông V1 tại Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa). Trong thời gian đó, bà V có quan hệ tình cảm với ông Giã Thanh Bảo T và có 01 (một) con chung với ông T. Tháng 9/2024, bà V được Tòa án xét xử cho bà được ly hôn ông Thái Tuấn V1, tại Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 25/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh thể hiện giữa ông V1 và bà V có 01 con chung là: Thái Phạm Linh P – sinh ngày: 15 tháng 9 năm 2012; ngoài ra không còn con chung nào khác. Ngày 16/7/2024, bà V sinh được cháu G Bảo Hân, có nghĩa bà V đã mang thai cháu H trong thời kỳ hôn nhân giữa bà và ông Thái Tuấn V1, khi đó ông V1 đang chấp hành án phạt tù đối với Bản án số 29/2021/HS-ST ngày 02/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa (Theo Quyết định thi hành án hình phạt tù số 109/2021/QĐ-CA ngày 07 tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa) tại đội 7, phân trại 1, Trại giam X – Bộ C; địa chỉ: Thôn P, xã X, tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ vào lời khai của ông T, bà V, ông V1 cho thấy:
Ông T, bà V đều thừa nhận cháu Giã Bảo H (tên dự kiến) – sinh ngày 16/7/2024 là con ruột của ông Giã Thanh Bảo T; ông V1 không biết việc bà V mang thai và sinh cháu Giã Bảo H, đồng thời ông cũng xác định cháu H không phải con ruột của ông.
Theo Phiếu kết quả phân tích DNA ngày 20/12/2024 của Trung tâm X1 kết luận: “Mẫu ADN ký hiệu GIÃ THANH BẢO TOÀN và mẫu ADN ký hiệu GIÃ BẢO HÂN CÓ quan hệ huyết thống Cha – Con, tần suất >99,999999997927%”.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định cháu Giã Bảo H (tên dự kiến) – sinh ngày 16/7/2024, giới tính: nữ là con đẻ của ông Giã Thanh Bảo T; ông T yêu cầu xác định con cho cha là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Vụ án thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 88, khoản 1 Điều 89, Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Giã Thanh Bảo T.
Xác định ông Giã Thanh Bảo T là cha đẻ của cháu Giã Bảo H (tên dự kiến) – sinh ngày 16 tháng 7 năm 2024, giới tính: nữ theo Giấy chứng sinh số 404 quyển số CS ngày 16 tháng 07 năm 2024 của Bệnh viện Q – Tổng cục H1.
Về án phí:
+ Ông Giã Thanh Bảo T, bà Phạm Thị Thục V thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm.
+ Hoàn trả cho ông Giã Thanh Bảo T số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007323 ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Khánh Hòa).
5. Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hoà; - VKSND khu vực 4 – Khánh Hòa ; - THADS tỉnh Khánh Hòa; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật) - Các đương sự; - Lưu vụ án; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Nhật Hoàng |