vanban.org

Bản án 36/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn B.

Giao con Nguyễn Gia B, sinh ngày 24/10/2014 cho anh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh B không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng cho con. (Về phần con chung tại Bản án số 20/2016/HNGĐ - ST, ngày 26/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "B - B"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 27/9/2025
V/v: “Tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Thị Hội;

2/ Ông Võ Cư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vự 6 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Trần Phương Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2025/TLST – HNGĐ, ngày 25 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn V, xã Ng, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị đơn: Chị Bùi Thị Ngọc B, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố Th, phường Trà Câu, tỉnh Quảng Ngãi.

(Nguyên đơn có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn Bùi Thị Ngọc B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2025 và các lời khai tại Tòa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn B trình bày:

Theo bản án số 20/2016/HNGĐ - ST, ngày 26/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi, ở phần con chung quyết định: “Vợ chồng anh có một con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 24/10/2014, hiện nay anh B đang nuôi dưỡng, buộc anh Nguyễn Văn B phải giao con chung Nguyễn Gia B cho chị Bùi Thị Ngọc B nuôi dưỡng; buộc anh Nguyễn Văn B phải cấp dưỡng cho chị Bùi Thị Ngọc B mỗi tháng 700.000đồng để nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia B”

Tại thời điểm ly hôn, anh B là người đang nuôi con, quá trình giải quyết vụ án anh có yêu cầu Tòa án giao con cho anh nuôi nhưng vì con anh dưới 36 tháng tuổi nên Tòa giao con cho chị B chăm sóc nuôi dưỡng nhưng thực tế sau khi ly hôn chị B không nuôi con mà để cho anh nuôi, chị B đi lấy chồng mới; từ trước và sau khi ly hôn anh là người trực tiếp nuôi con; để đảm bảo quyền lợi cho con Nguyễn Gia B trong việc học tập, sinh sống và nhất là làm các giấy tờ tùy thân nên anh yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao con Nguyễn Gia B cho cha là anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh B không yêu chị B phải cấp dưỡng cho con.

Bị đơn chị Bùi Thị Ngọc B: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị B nhưng chị B không đến Tòa, không trình bày ý kiến.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật; riêng bị đơn thực hiện không đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn B; Giao con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 24/10/2014 cho anh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh B không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng cho con. Ngoài ra, đương sự còn chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Văn B khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con với chị Bùi Thị Ngọc B; cư trú tại: Tổ dân phố Th, phường Tr, tỉnh Quảng Ngãi. Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn B và chị Bùi Thị Ngọc B có một con chung và theo bản án số 20/2016/HNGĐ - ST, ngày 26/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi đã giao con Nguyễn Gia B, sinh ngày 24/10/2014 cho chị Bùi Thị Ngọc B trực tiếp nuôi dưỡng. Nay, anh B yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con vì từ trước và sau ly hôn anh là người trực tiếp nuôi con, chị B lập gia đình mời, không quan tâm gì đến con.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

HĐXX nhận định: Nguyện vọng được nuôi con của anh B là chính đáng, hiện tại anh đang nuôi con khỏe mạnh, ổn định, trong khi đó chị Búp không có ý kiến gì về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hơn nữa, cháu B có ý kiến: “con ở với ba từ bé, ba nuôi con ăn học, đã lâu rồi con không gặp mẹ, con mong muốn được ở với ba như từ trước đến nay, con được ba yêu thương, chăm sóc đầy đủ”. Thực tế, cháu B sống cùng ba khỏe mạnh, vui vẻ, học hành bình thường nên yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con Nguyễn Gia B của anh B là phù hợp điều kiện hoàn cảnh, đảm bảo cho cháu được yêu thương, chăm sóc, giáo dục tốt nhất; đồng thời, đúng với nguyện vọng của cháu và có cơ sở theo quy định khoản 1 Điều 71; 2 Điều 81, khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 nên được chấp nhận.

Anh B không yêu cầu chị Búp phải cấp dưỡng cho con nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Anh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000đồng nhưng anh B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ nên được khấu trừ xong.

Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, các Điều 235, 238, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn B.

Giao con Nguyễn Gia B, sinh ngày 24/10/2014 cho anh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh B không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng cho con.

(Về phần con chung tại Bản án số 20/2016/HNGĐ - ST, ngày 26/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi được thay thế bằng Bản án này)

Chị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

2/ Về án phí: Anh Nguyễn Văn B phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001761, ngày 24/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ (Nay là Phòng thi hành án khu vực 6 - Quảng Ngãi) nên được khấu trừ xong.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND KV6 – Quảng Ngãi;

- Phòng THADS KV 6 – Quảng Ngãi;

- UBND xã Ng;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Bích Vân

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Trường Chinh Nguyễn Thị Thu Dung

Nguyễn Thị Bích Vân Nguyễn Thanh Trương

Nguyễn Kha

Nguyễn Thị Bích Vân

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thanh Sơn Đặng Văn Minh

Nguyễn Thị Bích Vân

Cỡ chữ