- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Trần Tuyết N - Nguyễn Thị Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Trần Tuyết N đối vớ i bi ̣ đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc “tranh chấp tiền hu ̣i”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/DS-ST Ngày: 14-8-2025 V/v tranh chấp tiền hụi |
NHÂN DANH
NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ
TÒ A Á N NHÂN DÂN KHU VỰC 18-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Hữu Binh;
̀
2. Ông Trần Văn Liêm.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thi ̣ Thảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2025, ta ̣i tru ̣ sở Tòa án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án dân sự thu ̣ lý số: 139/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2025 về “tranh chấp tiền hu ̣i”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
́
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trần Tuyết N, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Âp X, xa T1, huyê ̣̃
n D, tinh Bỉ
nh Dương (nay là xã T1, Thành phố Hồ Chí Minh).
̀
́
Bị đơn: Bà Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c T, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Âp C, xa T2,̃ huyê ̣n D, tinh Bỉ
nh Dương (nay là phường T3, Thành phố Hồ Chí Minh).
̀
Nguyên đơn, bị đơn xin vắng mă ̣t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin vắng mặt và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn (bà Nguyễn Trần Tuyết N) trình bày:
Bà N là chủ hụi. Bà T có tham gia chơi 01 dây hu ̣i do bà N làm chủ. Hụi khui ngày 10/7/2023; 3.000.000 đồng/tháng; có 15 ngườ i chơi, bà T tham gia chơi 01 phần. Đến ngày 10/9/2023, bà T đã hốt hu ̣i được 24.600.000 đồng. Bà N đã giao hu ̣i cho bà T bằng tiền mă ̣t là 24.600.000 đồng; bà T xác nhâ ̣n bằng cách ký vào giấy giao hu ̣i. Số tiền bà T phải đóng hu ̣i chết là 12 kỳ x 3.000.000 đồng = 36.000.000 đồng, tức là mỗi tháng đóng 3.000.000 đồng bắt đầu từ ngày 10/10/2023 cho đến 10/9/2024 là hụi kết thúc. Theo bà N xác đi ̣nh là bà T chưa đóng hu ̣i chết từ ngày 10/10/2023 cho đến nay. Do bà N bâ ̣n công viê ̣c, phải chăm sóc 02 con nhỏ, vớ i la ̣i bà N cũng lên gă ̣p bà T nhưng bà T hứ a he ̣n nhiều lần nên đến năm 2025 mớ i khở i kiê ̣n. Bà N chỉ chấp nhâ ̣n viê ̣c đóng hu ̣i nếu bà T chuyển khoản cho bà N từ tài khoản của bà T có nô ̣i dung đóng tiền hu ̣i, nếu chuyển vào tài khoản của chồng bà N cũng vâ ̣y thi bà N mớ i chấp nhâ ̣n. Còn chuyển khoản
̀
từ tài khoản của ngườ i khác hoă ̣c không ghi rõ nô ̣i dung tiền hu ̣i thi bà N không
̀ chấp nhâ ̣n.
Theo đơn khở i kiê ̣n, bà N yêu cầu bà T phải trả la ̣i cho bà N tổng số tiền hu ̣i còn nợ là 36.000.000 đồng.
Ta ̣i phiên ho ̣p công khai chứng cứ, bà N chỉ yêu cầu bà T trả số tiền hu ̣i là 24.000.000 đồng. Đối vớ i số tiền 12.000.000 đồng bà N không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài ra, nguyên đơn không cung cấp chứng cứ, không trình bày ý kiến gì khác.
Theo bản tự khai, đơn xin giải quyết vắ ng mặt và quá trinh tham gia tố
̀ tụng, ý kiến bà Nguyễn Thị Ngọc T thể hiê ̣n:
Bà T có tham chơi 01 dây hu ̣i do bà N làm chủ khui ngày 15/3/2023. Hu ̣i 3.000.000 đồng/tháng. Hu ̣i có 12 ngườ i chơi, bà T chơi 01 phần. Đến ngày 15/6/2023, bà T được hốt hu ̣i. Tiền hốt hu ̣i là 24.600.000 đồng nhưng sau khi trừ tiền chủ hu ̣i 3.150.000 đồng, bà T chỉ nhâ ̣n được 21.450.000 đồng. Giấy giao hu ̣i do bà N cung cấp trong hồ sơ vu ̣ án là do bà T ký bên ngườ i nhâ ̣n hu ̣i. Sau khi hốt hu ̣i bà T đa đõ ́ng được 05 tháng tiền hu ̣i chết tổng số tiền 15.000.000 đồng. Tháng 2/2025, bà N lên nhà bà T báo cho bà T biết là bà T còn nợ la ̣i 07 tháng hu ̣i chết là 21.000.000 đồng. Bà T đóng liền cho bà N ngay lúc đó 3.000.000 đồng, tháng sau bà T tiếp tu ̣c đóng 1.500.000 đồng nữa. Sau đó, cao su nghỉ ca ̣o nên bà T không đóng tiếp được, bà T có xin khi nào vô ca ̣o la ̣i thi bà T đóng tiếp nhưng bà
̀ N không đồng ý mà khở i kiê ̣n ra Toà. Hiê ̣n bà T chỉ còn nợ bà N số tiền hu ̣i là 16.500.000 đồng. Bà T đóng hu ̣i chết cho bà N bằng hinh thứ c chuyển khoản qua
̀ số tài khoản số 5504205333745 và xxxxxxxxxx của bà N ta ̣i ngân hàng OCB. Hai lần cuối bà T chuyển khoản đến số tài khoản của chồng bà N tên C nhưng không cung cấp được số tài khoản và số tiền chuyển. Nguyên đơn bà N yêu cầu bà T phải trả la ̣i cho bà N tổng số tiền hu ̣i còn nợ là 36.000.000 đồng thi bà T không
̀ đồng ý vi bà T chỉ còn nợ la ̣i tiền hu ̣i là 16.500.000 đồng. Bà T chỉ đồng ý trả số
̀ tiền hu ̣i còn nợ 16.500.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán,Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thâ ̣p chứ ng cứ , công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử đúng trinh tự, thủ tu ̣c tố tu ̣ng. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định tại
̀ các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có mặt, bị đơn xin vắng mă ̣t nên đề nghị xét xử vắng mặt bi ̣ đơn. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung thủ tục tố tụng.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ một phần. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứ u các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c thẩm tra ta ̣i phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhận đi ̣nh:
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà N, bị đơn bà T vắng mă ̣t nhưng đa cõ ́ ý kiến trinh bày, có đơn xin vắng mă ̣t nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng
̀ mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà N yêu cầu bị đơn bà T phải thanh toán số tiền hu ̣i còn nợ là 36.000.000 đồng. Bà T hiện đang cư trú tại ấp Chợ, phường Tây Nam, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2025. Quan hê ̣ pháp luâ ̣t là tranh chấp tiền hu ̣i. Tại phiên hòa giải, nguyên đơn bà N chỉ yêu cầu bà T thanh toán số tiền hụi là 24.000.000 đồng, không tranh chấp đối với số tiền 12.000.000 đồng. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2025 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với số tiền 12.000.000 đồng này của bà N.
Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày về việc có chuyển khoản trả tiền hụi cho nguyên đơn bà N thông qua tài khoản ngân hàng của ông Cường chồng bà N nhưng không xác định được tài khoản, số tiền, thời gian chuyển. Tòa án đã ra thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ cho bị đơn nhưng bị đơn không cung cấp được. Ông Nguyễn Thanh Cường, sinh năm 1984. Địa chỉ: khu phố Dòng Sỏi, phường An Tây, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố Dòng Sỏi, phường Tây Nam, Thành phố Hồ Chí Minh) là chồng bà Nguyễn Trân Tuyết Nhi có văn bản gửi Tòa án xác định không giao dịch, không nhận chuyển khoản gì từ bị đơn và không có liên quan đến giao dịch chơi hụi giữa nguyên đơn và bị đơn. Do đó, Tòa án không có căn cứ đưa ông Cường tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Về nô ̣i dung tranh chấp: Nguyên đơn và bị đơn thừa nhận bị đơn có tham gia chơi dây hụi do nguyên đơn làm chủ. Bị đơn thừa nhận có ký trên giấy giao hụi đề ngày 10/9/2023 do nguyên đơn cung cấp. Số tiền hốt hụi là 24.600.000 đồng, tiền hụi chết còn phải đóng là 36.000.000 đồng. Đây là tinh tiết không cần
̀ phải chứ ng minh theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 92 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2025. Bà N yêu cầu bà T thanh toán số tiền hụi còn nợ là 24.000.000 đồng theo giấy giao hu ̣i có chữ ký xác nhâ ̣n của bà T trên cơ sở thừa nhận bà T đã đóng được số tiền 12.000.000 đồng thông qua số tài khoản xxxxxxxxxx tại Ngân hàng TMCP Phương Đông của bà N. Bà T cho rằng bà đã đóng được cho nguyên đơn tổng số tiền 19.500.000 đồng thông qua chuyển khoản ngân hàng đến số tài khoản của nguyên đơn và Nhi và chồng bà N là ông Cường, chỉ còn nợ tiền hụi chết là 16.500.000 đồng và chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn 16.500.000 đồng. Tòa án đã thông báo cho bị đơn về việc cung cấp chứng cứ chứng minh việc chuyển khoản của bị đơn cho Nhi, ông Cường nhưng bị đơn không cung cấp được. Căn cứ vào văn bản số 538/CV-BIDV.MP ngày 13/6/2025 và sao kê tài khoản kèm theo có căn cứ xác định bị đơn bà T đã chuyển khoản từ số tài khoản 6521339240 tại Ngân hàng TMCP Xây dựng và Phát triển Việt Nam của bà T đến số tài khoản xxxxxxxxxx tại Ngân hàng TMCP Phương Đông của nguyên đơn bà Nguyễn Trần Tuyết N từ 21/12/2023 (sau thời điểm giao hụi 10/9/2023) đến ngày 17/12/2024 tổng số tiền là 13.500.000 đồng (gồm 04 lần chuyển 3.000.000 đồng, 01 lần chuyển 1.500.000 đồng). Nguyên đơn bà N chỉ đồng ý thừa nhận bị đơn đã chuyển tổng số tiền là 12.000.000 đồng, còn số tiền 1.500.000 đồng là thanh toán tiền vay giữa nguyên đơn và bị đơn nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Có căn cứ xác định bị đơn đã thanh toán tổng số tiền hụi cho nguyên đơn là 13.500.000 đồng. Vì vậy, yêu cầu của bà N về việc buộc bà T thanh toán số tiền 24.000.000 đồng chỉ được chấp nhận một phần đối với số tiền 22.500.000 đồng.
Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí đối với số tiền không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 217, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Căn cứ các Điều 471 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Trần Tuyết N đối vớ i bi ̣ đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc “tranh chấp tiền hu ̣i”.
Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Trần Tuyết N số tiền là 22.500.000 đồng (hai mươi hai triê ̣u năm trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Trần Tuyết N đối với số tiền hụi 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng).
3. Đình chỉ yêu cầu giải quyết của bà Nguyễn Trần Tuyết N đối với số tiền hụi 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 1.125.000 đồng (mô ̣t triê ̣u mô ̣t trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
Bà Nguyễn Trần Tuyết N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0007439 ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi khấu trừ hoàn trả cho bà N số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh; - THA DS Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Tuyền |