- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngo Vinh Khoa - Hua Tran Tuan Khoi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K: Buộc bị đơn ông Hứa Trần Tuấn Kh phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K số tiền vốn 6.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC ST – CẦN THƠ ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2025/DS-ST Ngày 04-9-2025 “V/v Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC ST – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thanh Loan.
Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Thắng.
Ông Nguyễn Phước.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận là Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực ST – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực ST – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực ST – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 122/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2025 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Ngô Vĩnh K, sinh ngày: 16/8/20XX; CCCD: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Xã A, thành phố CT (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Hứa Trần Tuấn Kh, sinh ngày: 15/5/20XX; CCCD: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Xã B, thành phố CT (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/8/2024, nguyên đơn là ông Ngô Vĩnh K trình bày:
Ngày 05/5/2024, ông Hứa Trần Tuấn K có vay của ông Ngô Vĩnh Khsố tiền là 3.000.000 đồng (Hình thức vay nhắn tin qua mạng Zalo). Thời hạn vay là 4 tuần, mỗi tuần (7 ngày) trả lãi một lần theo mức lãi suất 1%/ngày. Đến tuần thứ 4 ngày 03/6/2024 là hạn chót trả đủ tiền gốc kèm lãi tuần 4 nhưng ông Kh hứa hẹn không thanh toán khoản vay. Số tiền ông Kh chưa thanh toán đến ngày 03/6/2024 là 3.210.000 đồng.
Ngày 11/5/2024 ông Kh tiếp tục vay của ông K số tiền là 3.000.000 đồng (Hình thức vay nhắn tin qua mạng Zalo). Thời hạn vay là 4 tuần, mỗi tuần (7 ngày) trả lãi một lần theo mức lãi suất 1%/ngày. Đến tuần thứ 4 ngày 08/6/2024 là hạn chót trả đủ tiền gốc kèm lãi tuần 4 nhưng ông Kh hứa hẹn không thanh toán khoản vay. Số tiền ông Kh chưa thanh toán đến ngày 08/6/2024 là 3.210.000 đồng.
Ngày 11/5/2024 ông Kh có nhờ ông Danh Hoàng T nhắn tin qua mạng xã hội zalo cho ông K, vay số tiền 3.000.000 đồng thời hạn vay là 4 tuần, mỗi tuần (7 ngày) trả lãi một lần theo mức lãi suất 1%/ ngày. Đến tuần thứ 4 ngày 08/6/2024 là hạn chót trả đủ tiền gốc kèm lãi tuần 4 nhưng ông Kh hứa hẹn không thanh toán khoản vay. Số tiền ông Kh chưa thanh toán đến ngày 08/6/2024 là 3.210.00 đồng.
Tổng số tiền ông Kh chưa thanh toán cho ông K là 9.630.000 đồng.
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/8/2024 ông K yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông Hứa Trần Tuấn Kh trả cho ông Ngô Vĩnh K tổng số tiền gốc và lãi là 9.630.000 đồng.
* Tại đơn xin xét xử vắng mặt và đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 19/8/2025, nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K trình bày:
Ông K xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể ông K chỉ yêu cầu ông Kh trả số tiền vốn 6.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/6/2025, bị đơn ông Hứa Trần Tuấn Kh trình bày:
Ông Kh là sinh viên, trong khoảng thời gian đi học tại Trường Đại học Cần Thơ, ông Kh bị mất cái bóp và mất hết tiền, không có tiền đóng học phí nên ông Kh có vay tiền của ông K để đóng học phí, ông Kh vay hai lần:
Lần 1: Ngày 05/5/2024 ông Kh có vay của ông Ngô Vĩnh K số tiền 3.000.000 đồng (Hình thức vay nhắn tin qua mạng Zalo). Thời hạn vay là 4 tuần, mỗi tuần (7 ngày) trả lãi một lần theo mức lãi suất 1%/ ngày. Ông Kh có đóng lãi cho ông K số tiền 210.000 đồng, tiền vốn 3.000.000 đồng thì ông Kh chưa trả (ông Kh sẽ cung cấp chứng cứ số tiền lãi 210.000 đồng cho Toà sau).
Lần 2: Ngày 11/5/2024 ông Kh có vay của ông K số tiền 3.000.000 đồng (Hình thức vay nhắn tin qua mạng Zalo). Thời hạn vay là 4 tuần, mỗi tuần (7 ngày) trả lãi một lần theo mức lãi suất 1%/ ngày. Lần này ông Kh cũng chưa trả số tiền vốn 3.000.000 đồng, còn tiền lãi ông Kh không nhớ là có trả chưa, ông Kh sẽ về tìm lại chứng cứ và sẽ cung cấp cho Toà sau.
Đối với số tiền 3.000.000 đồng ông K cho rằng vào ngày 11/5/2024 là, ông Kh có nhờ ông Danh Hoàng T nhắn tin qua mạng xã hội zalo cho ông K, vay 3.000.000 đồng thời hạn vay là 4 tuần, mỗi tuần (7 ngày) trả lãi một lần theo mức lãi suất 1%/ ngày. Đến tuần thứ 4 ngày 08/6/2024 là hạn chót trả đủ tiền gốc kèm lãi tuần 4 nhưng ông Kh hứa hẹn không thanh toán khoản vay. Tổng số tiền ông Kh chưa thanh toán đến ngày 08/6/2024 là 3.210.00 đồng. Ông Kh khẳng định là không có mượn số tiền này.
Như vậy, ông Kh thừa nhận có vay của ông K hai lần, tổng cộng số tiền là 6.000.000 đồng nên ông Kh chỉ đồng ý trả cho ông K số tiền vốn là 6.000.000 đồng.
* Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực ST – Cần Thơ trình bày ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại đơn xin xét xử vắng mặt và đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 19/8/2025, nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K trình bày: Ông K xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể ông K chỉ yêu cầu ông Kh trả số tiền vốn 6.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Hứa Trần Tuấn Kh có nơi cư trú tại phường B, thành phố Cần Thơ trả số tiền nợ vay 6.000.000 đồng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự; Quan hệ pháp luật để giải quyết vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực ST – Cần Thơ.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Hứa Trần Tuấn Kh vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt và đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn thay đổi xin rút một phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể: Ông K chỉ yêu cầu ông Kh trả số tiền vốn 6.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn vay 6.000.000 đồng, thấy rằng:
Nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Hứa Trần Tuấn Kh trả cho nguyên đơn ông K số tiền vốn vay 6.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Kh cũng thừa nhận ông Kh có vay của ông K số tiền 6.000.000 đồng, hình thức vay qua tin nhắn zalo như ông K trình bày là đúng và ông Kh cũng thừa nhận hiện nay ông Kh còn nợ ông K số tiền 6.000.000 đồng nên căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh. Xét thấy chủ thể, hình thức, nội dung của hợp đồng vay tài sản nêu trên được thực hiện đúng quy định tại Điều 117, Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015. Khi xác lập giao dịch vay các bên có thỏa thuận thời hạn trả, thỏa thuận lãi suất nên được xác định là giao dịch vay có kỳ hạn và có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Trên thực tế giữa ông Ngô Vĩnh K và ông Hứa Trần Tuấn Kh có giao kết hợp đồng vay tài sản. Các bên tiến hành giao kết trên nguyên tắc tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Do đó hợp đồng trên được pháp luật bảo vệ và buộc các bên phải thực hiện theo đúng hợp đồng. Xét thấy, ông Kh đã nhận tiền vay của ông K số tiền 6.000.000 đồng nhưng đến nay chưa trả là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ Luật Dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định số tiền vốn vay ông Kh còn nợ ông K là 6.000.000 đồng.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên buộc bị đơn ông Hứa Trần Tuấn Kh phải trả cho nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K số tiền vốn vay là 6.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ những phân tích, nhận định trên nên đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238; khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ: Điều 117, khoản 2 Điều 357; Điều 463; khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K: Buộc bị đơn ông Hứa Trần Tuấn Kh phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K số tiền vốn 6.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Hứa Trần Tuấn Kh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng.
Nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 240.750 đồng theo biên lai thu số 0000187 ngày 31/3/2025, của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng. Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực ST – Cần Thơ.
Kể từ ngày nguyên đơn ông Ngô Vĩnh K có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị đơn ông Hứa Trần Tuấn Kh còn phải trả lãi cho ông Ngô Vĩnh K theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với số tiền vốn chưa thanh toán.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TPCT; - VKSND KVST - CT; - Phòng THADS KVST - CT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thanh Loan |