vanban.org

Bản án 36/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 20/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 36/2024/HSST;
Ngày: 20/5/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Tuấn;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Phạm Thành Công;

Ông: Huỳnh Thanh M;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông – tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan M Tân – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Ngọc B sinh năm xxxx, tại Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp B, xã K, huyện G, tỉnh T; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày xx/xx/xxxx Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; Con ông Đỗ Văn T - sinh năm xxxx và bà Trịnh Thị Bích L – sinh năm xxxx; Vợ, con: không. Đặc điểm nhân thân: ngày 21/11/2019, bị cáo Đỗ Ngọc B bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tuyên phạt 01 (một) năm 03 tháng tù, về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự theo bản án số 54/2019/HS-ST, bị cáo Đỗ Ngọc B đã chấp hành xong ngày 01/11/2020 (đã được xóa án tích). Tiền án: không; Tiền sự: 01 lần, ngày 29/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 42/2023/QĐ-TA; hiện bị cáo đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang từ ngày 15/11/2023 đến nay; (có mặt tại phiên tòa).

- 2 -

* Người bị hại: Phạm Thị Ngọc T – sinh năm xxxx; Nơi cư trú: Ấp B, xã K, huyện G, tỉnh T; (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Đỗ Văn T – sinh năm xxxx; Nơi cư trú: Ấp B, xã K, huyện G, tỉnh T; (có mặt).

2/ Trần Việt Q – sinh năm xxxx; Nơi cư trú: Khu phố L X, thị trấn V, huyện G, tỉnh T; (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 15/10/2023, bị cáo Đỗ Ngọc B đi bộ từ nhà của mình đến nhà của chị Phạm Thị Ngọc T để tìm tài sản lấy trộm, thấy nhà của chị T khóa cửa không có người trông coi nên bị cáo B leo lên từ phía sau nhà vệ sinh để lên nóc nhà và sử dụng chìa khóa (cờ lê cỡ 10 mm) để mở óc ty dỡ một tấm tol (tôn) leo vào bên trong nhà của chị T. Khi vào bên trong nhà chị T, bị cáo B đi lại tủ lạnh lấy chai nước ngọt nhãn hiệu Number One để uống, sau đó bị cáo B đi vào phòng ngủ của chị T lục quần áo trong phòng tìm kiếm tài sản lấy trộm nhưng không có, bị cáo B dỡ cái gối trên tấm nệm lên thì thấy 02 (hai) điện thoại di động hiệu OPPO (một cái màu đỏ và một cái màu đen) của chị T nên bị cáo B lấy trộm 02 điện thoại trên bỏ vào túi quần và đi đến cửa nhà trên mở cửa và đi ra khỏi nhà. Sau đó, bị cáo B tìm chỗ bán 02 điện thoại lấy trộm được, trên đường đi đến đoạn đường thuộc ấp Giá dưới, xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang thì bị cáo B gặp một người thanh niên tên M (bị cáo không biết họ tên và địa chỉ cụ thể của M), B hỏi M “mua điện thoại không”, M trả lời “điện thoại của ai mà bán”, bị cáo B nói “điện thoại của tao” lúc này bị cáo B bán cho M 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen với giá 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng), bị cáo B tiếp tục đi đến tiệm điện thoại di động Việt Quốc thuộc Khu phố L X, thị trấn V, huyện G, tỉnh T gặp anh Trần Việt Q là chủ cửa hàng điện thoại di động để bán tiếp 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ với giá 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). Mục đích bị cáo B lấy trộm 02 điện thoại trên để bán lấy tiền mua ma túy về sử dụng.

Vật chứng thu giữ:

* Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) quần Jeans lửng màu xanh, đã cũ hiệu TNJ, chiều dài 48,5cm, bề ngang lưng quần 36cm;

+ 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen hiệu ROBERTA, size XL;

+ 01 (một) chiếc dép bên phải bằng nhựa màu đen, dài 27cm, rộng 9cm, 01 chiếc dép bên trái bằng nhựa màu đen, dài 27cm, rộng 9cm;

+ 01 (một) cái nón bũm màu đen có chữ màu trắng “Champiow”;

+ 01 (một) chai nhựa trên chai có dán nhãn màu vàng có chữ Number 1 nước tăng lực;

- 3 -

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5s màu đỏ;

Tại Kết luận định giá tài sản số 114/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gò Công Đông thì 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S màu đỏ tại thời điểm định giá có giá trị 900.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S màu đen tại thời điểm định giá có giá trị là 1.200.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm ngàn đồng).

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKS.GCĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố bị cáo Đỗ Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông giữ quyền công tố vẫn giữ y quan điểm về tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc B từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu quỹ:

+ 01 (một) quần Jeans lửng màu xanh, đã cũ hiệu TNJ, chiều dài 48,5cm, bề ngang lưng quần 36cm;

+ 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen hiệu ROBERTA, size XL;

+ 01 (một) chiếc dép bên phải bằng nhựa màu đen, dài 27cm, rộng 9cm, 01 chiếc dép bên trái bằng nhựa màu đen, dài 27cm, rộng 9cm;

+ 01 (một) cái nón bũm màu đen có chữ màu trắng “Champiow”;

+ 01 (một) chai nhựa trên chai có dán nhãn màu vàng có chữ Number 1 nước tăng lực;

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5s màu đỏ của chị T, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chị T và chị T không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị hội đồng xét xử ghi nhận.

- Đối với anh Trần Việt Q là người đã mua 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5s màu đỏ do bị cáo B trộm cắp được. Tuy nhiên, tại thời điểm bị cáo bán điện thoại trên cho anh Q thì anh Q hoàn toàn không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh Qlà có căn cứ.

- Đối với người thanh niên M (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) mà bị cáo B đã bán điện thoại di động hiệu OPPO (màu đen) tại khu vực ấp Giá Dưới, xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Qua xác minh, tại khu vực ấp Giá Dưới, xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang không có đối tượng tên M có biểu hiện nghi vấn về các hành vi xâm phạm sỡ hữu tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác M khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

- 4 -

- Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Gò Công Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Đỗ Ngọc B khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ ngày 15/10/2023, bị cáo B leo lên từ phía sau nhà vệ sinh để lên nóc nhà của chị T và sử dụng chìa khóa (cờ lê cỡ 10 mm) để mở óc ty dỡ một tấm tol (tôn) leo vào bên trong nhà của chị T lén lút lấy trộm 02 (hai) điện thoại di động hiệu OPPO (một cái màu đỏ và một cái màu đen), giá trị tài sản là 2.100.000 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đang ở độ tuổi thanh niên, đủ sức lao động tạo của cải vật chất để phục vụ nhu cầu cá nhân, giúp ích cho gia đình, xã hội; nhưng do bản tính tham lam, chây lười lao động, nghiện ma túy nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là trộm cắp tài sản của chị Phạm Thị Ngọc T để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân lương thiện và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 21/11/2019, bị cáo Đỗ Ngọc B bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 (một) năm 03 tháng tù, về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự tại bản án số 54/2019/HS, bị cáo đã chấp hành xong ngày 01/11/2020 (đã được xóa án tích) và ngày 29/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 42/2023/QĐ-TA, hiện bị cáo đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử

- 5 -

lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 15/11/2023 đến nay (chưa xóa) nên cũng cần xem xét khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả; tài sản thiệt hại không lớn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 cho bị cáo khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng:

- Xét cần tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm:

+ 01 (một) quần Jeans lửng màu xanh, đã cũ hiệu TNJ, chiều dài 48,5cm, bề ngang lưng quần 36cm;

+ 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen hiệu ROBERTA, size XL;

+ 01 (một) chiếc dép bên phải bằng nhựa màu đen, dài 27cm, rộng 9cm, 01 chiếc dép bên trái bằng nhựa màu đen, dài 27cm, rộng 9cm;

+ 01 (một) cái nón bũm màu đen có chữ màu trắng “Champiow”;

+ 01 (một) chai nhựa trên chai có dán nhãn màu vàng có chữ Number 1 nước tăng lực;

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan Điều tra bị hại chị Phạm Thị Ngọc T đã nhận lại tài sản là 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5s màu đỏ và tiền bồi thường 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5s màu đen xong. Chị T không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Trần Việt Q là người đã mua 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5s màu đỏ do bị cáo B trộm cắp được. Tuy nhiên, tại thời điểm bị cáo bán điện thoại trên cho anh Qthì anh Qhoàn toàn không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh Qlà có căn cứ.

Đối với người thanh niên M (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) mà bị cáo B đã bán điện thoại di động hiệu OPPO (màu đen) tại khu vực ấp Giá Dưới, xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Qua xác M, tại khu vực ấp Giá Dưới, xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang không có đối tượng tên M, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác M khi có căn cứ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

- 6 -

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Ngọc B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Đỗ Ngọc B 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm:

+ 01 (một) quần Jeans lửng màu xanh, đã cũ hiệu TNJ, chiều dài 48,5cm, bề ngang lưng quần 36cm;

+ 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen hiệu ROBERTA, size XL;

+ 01 (một) chiếc dép bên phải bằng nhựa màu đen, dài 27cm, rộng 9cm, 01 chiếc dép bên trái bằng nhựa màu đen, dài 27cm, rộng 9cm;

+ 01 (một) cái nón bũm màu đen có chữ màu trắng “Champiow”;

+ 01 (một) chai nhựa trên chai có dán nhãn màu vàng có chữ Number 1 nước tăng lực;

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Gò Công Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông).

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đỗ Ngọc B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ