- Tranh chấp gì? án hình sự — "hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phạm tội “Huỷ hoại tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 30-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Truyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Quen
Ông Trần Văn Nước
- Thư ký phiên tòa: Bà Long Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Sĩ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Hồng T sinh ngày 27/8/1986; tại tỉnh Trà Vinh.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm M, phường N, thị xã P, tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: khóm M, phường N, thị xã P, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: nuôi tôm; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K sinh năm 1963 và bà Trần Thị Ng sinh năm 1963; có chồng và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; ngày 15/5/2024 bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Huỳnh Th sinh năm 1998; trú tại: khóm M, phường N, thị xã P, tỉnh Trà Vinh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 18/12/2023 bà Nguyễn Huỳnh Th và bà Nguyễn Thị Tuyết M đến chỗ ở của ông Nguyễn Văn Ch tại khóm M, phường N, thị xã P để dọn đồ chuẩn bị ly hôn với ông Ch. Sau đó bị cáo (em chồng của bà Th) đến thì xảy ra mâu thuẫn với bà Thoại về việc phân chia tài sản sau khi ly hôn giữa bà Thvà ông Ch. Trong lúc cải nhau thì bà Ng (mẹ chồng bà Th) đến cùng bị cáo cải nhau với bà Th cũng liên quan đến tài sản. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày bị cáo tiếp tục cải nhau với bà Th, sau đó bị cáo cầm một bức tượng bằng thạch cao (dùng để tô màu) để ở góc nhà chọi một cái trúng vào tivi nhãn hiệu Panasonic đang treo trên tường làm bể màn hình, bà Th kêu bị cáo đền tivi nhưng bị cáo không chịu đền và tiếp tục cầm một chồng chén, dĩa (khoảng 03 cái) chọi trúng vào vùng đầu bên trái của bà Th cháy máu rồi bị cáo bỏ đi về nhà.
Tại Bản kết luận giám định số 16/2024/KLTTCT-TTPY ngày 19/01/2024 của Trung tâm giám định pháp y Sở y tế tỉnh Trà Vinh kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể nạn nhân Nguyễn Huỳnh Th (sẹo nhỏ vùng đỉnh đầu trái là 01%), cơ chế hình thành vết thương là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích là vật tày cứng, hướng từ trái sang phải.
Tại Bản kết luận giám định số 984/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Tp.HCM kết luận: Màn hình nhãn hiệu Panasonic model; TH-43JX 620V, mã số SV2230114, bị vở nát màn hình tại góc bên trái. Kết luận phần màn hình hiển thị hư hỏng (vở, bể) không thể sửa chữa.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐG ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá kết luận: 01 Màn hình nhãn hiệu Panasonic model; TH-43JX 620V, mã số SV2230114, bị vở nát màn hình bên góc trái; có chiều dài 97cm, rộng 56cm, đường chéo 112cm, màu đen, đã qua sử dụng có giá 3.500.000 đồng.
Đến ngày 14/5/2024 bà Th đã làm đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, lý do hai bên đã thoả thuận việc bồi thường. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải không khởi tố về tội cố ý gây thương tích.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKS-HS ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng T về tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai và thừa nhận hành vi huỷ hoại tài sản như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và thống nhất về kết luận giám định và kết luận định giá tài sản.
- Kiểm sát viên luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng về tội “Huỷ hoại tài sản”; áp dụng khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự đề nghị phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bị hại Nguyễn Huỳnh Th: 01 Màn hình nhãn hiệu Panasonic model; TH-43JX 620V, mã số SV2230114, bị vở nát màn hình bên góc trái; có chiều dài 97cm, rộng 56cm, đường chéo 112cm, màu đen.
Bị cáo, bị hại không phát biểu ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi của mình xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra thu thập được. Trên cơ sở đánh giá, xem xét toàn diện các chứng cứ có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 16 giờ 30 phút tại nhà của bà Nguyễn Huỳnh Th khóm M, phường N, thị xã P bị cáo Nguyễn Thị Hồng T dùng tay phải cầm một bức tượng bằng thạch cao màu trắng chọi một cái trúng vào tivi nhãn hiệu Panasonic của bà Nguyễn Huỳnh Th đang treo trên tường làm bể màn hình ở gần góc trái không thể sửa chữa được, hậu quả làm tài sản của bà Nguyễn Huỳnh Thoại bị huỷ hoại có giá trị là 3.500.000 đồng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận biết việc thực hiện hành vi huỷ hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên chỉ vì mâu thuẫn giữa bị cáo với bà Nguyễn Huỳnh Th về việc việc phân chia tài sản giữa bà Nguyễn Huỳnh Th và ông Nguyễn Văn Ch, bị cáo đã thực hiện hành vi huỷ hoại tài sản của bà Nguyễn Huỳnh Th. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, tài sản bị cáo huỷ hoại có giá trị 3.500.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Về quan điểm luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy: Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích đúng tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quan điểm buộc tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các tình tiết và các tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; hành vi của bị cáo không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm mất trật tự xã hội tại địa phương, tài sản bị cáo huỷ hoại có giá trị 3.500.000 đồng. Tuy nhiên mức độ hành vi phạm tội là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo là đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối bị cáo để tương xứng với hành vi phạm tội và tính chất của vụ án.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 Màn hình nhãn hiệu Panasonic model; TH-43JX 620V, mã số SV2230114, bị vở nát màn hình bên góc trái; có chiều dài 97cm, rộng 56cm, đường chéo 112cm, màu đen. Tại phiên toà bị hại Nguyễn Huỳnh Th xin nhận lại tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Tại phiên toà bị hại Nguyễn Huỳnh Th không có yêu cầu. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Duyên Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phạm tội “Huỷ hoại tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T là 01 (một) năm được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T nộp vào ngân sách Nhà nước 10.000.000 đồng.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Hồng T cho Ủy ban nhân dân Phường N, thị xã P, tỉnh Trà Vinh giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị hại Nguyễn Huỳnh Th: 01 Màn hình nhãn hiệu Panasonic model; TH-43JX 620V, mã số SV2230114, bị vở nát màn hình bên góc trái; có chiều dài 97cm, rộng 56cm, đường chéo 112cm, màu đen.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - STP tỉnh Trà Vinh; - VKSND thị xã Duyên Hải; - CA thị xã Duyên Hải; - CCTHADS thị xã Duyên Hải; - UBND xã, phường; - Bị cáo, đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Truyền |