vanban.org

Bản án 36/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 21/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Tấn Tr phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dương Tấn Tr 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 27/11/2023). Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tấn Tr phạm tội: "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Tấn Tr phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày 21-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Bích Ân;

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Hữu Tin;

+ Ông Nguyễn Văn Thông.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Ngọc Luông; Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Tấn Tr; sinh ngày 10/10/1990, tại: thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Khối phố 6, phường A, thành phố T, tỉnh Q; Nghề nghiệp: không; giới tính: nam; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương B, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Phan Thị Tr, sinh năm 1957; Bị cáo chưa có vợ, con.

- Tiền án:

+ Ngày 17/4/2019, bị TAND thành phố Tam Kỳ tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 29/11/2019. Hiện chưa được xóa án tích.

+ Ngày 12/3/2021, bị TAND thành phố Tam Kỳ tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 09/9/2021. Hiện chưa được xóa án tích.

+ Ngày 17/5/2022, bị TAND thành phố Tam Kỳ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 17/7/2023. Hiện chưa được xóa án tích.

- Tiền sự:

+ Ngày 20/3/2020, bị Công an phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản;

+ Ngày 27/3/2020, bị Công an phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản;

+ Ngày 25/01/2022, bị Công an thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Nhân thân:

+ Ngày 14/8/2012, bị TAND thành phố Tam Kỳ xử phạt 21 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2013;

+ Ngày 23/01/2019, bị TAND thành phố Tam Kỳ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng;

+ Ngày 03/02/2021, bị Công an thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị bắt tạm giam từ ngày 27/11/2023. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị Thu B; sinh năm 1977; trú tại: khối phố Mỹ Thạch Đông, phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Đức L; sinh năm 1987; trú tại: khối phố Ph, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

+ Bà Dương Thị Ánh Ng; sinh năm: 1987; trú tại: khối phố 6, phường, thành phố T, tỉnh Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 24/11/2023, Dương Tấn Tr điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RS màu đen, biển kiểm soát (BKS): 61U2 - 6362 đi dạo trên các tuyến đường tại địa bàn thành phố Tam Kỳ với mục đích tìm tài sản của người dân để sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến đường Phan Bội Châu, Tr điều khiển xe rẽ vào đường bê tông Kiệt 461 Phan Bội Châu thuộc khối phố Mỹ Thạch Đông, phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam rồi đi tiếp khoảng 100m, nhìn bên tay phải chiều đi của mình thấy nhà bà Lê Thị Thu B có cổng không đóng, bên trong không có người nên Tr điều khiển xe đi vào dừng ở giữa sân nhà bà Ba. Tr nhìn vào kho nhà bà B có 02 bàn inox đang để ở kho. Tr đi đến vác 02 cái bàn inox rồi bỏ lên sau yên xe mô tô, sau đó điều khiển xe đến tiệm mua bán đồ cũ ở Số 22 đường Hùng Vương thuộc phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ bán 02 cái bàn trên cho ông Nguyễn Đức L với giá 350.000 đồng. Số tiền bán bàn inox có được, Tr đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá số 113/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tam Kỳ xác định 02 (hai) bàn inox, loại bàn ăn có mặt bàn hình tròn, đường kính mặt bàn 1,15m, đã qua sử dụng, tại thời điểm xảy ra vụ việc (ngày 24/11/2023) có giá trị 650.000 đồng (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSTK-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ đã truy tố bị cáo Dương Tấn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Tấn Tr với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Lê Thị Thu B 02 (hai) bàn inox; trả lại cho chị Nguyệt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, BKS: 61U2 – 6362 là phù hợp nên không đề nghị xem xét.

Về dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với lời khai của những người tham gia tố tụng, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 8 giờ ngày 24/11/2023, tại khối phố Mỹ Thạch Đông, phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ, Dương Tấn Tr có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Lê Thị Thu B 02 bàn inox có tổng trị giá 650.000đ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Dương Tấn Tr đang có 02 tiền án và 02 tiền sự về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong ngày 17/7/2023, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Hành vi trên của bị cáo Dương Tấn Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tài sản hợp pháp của mọi công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác đều bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Bị cáo Tr đã lợi dụng sự sơ hở, sự mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho ông Nguyễn Đức L; phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi trao trả cho chủ sở hữu. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặc dù tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn nhưng bị cáo đã bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản, mới chấp hành xong vào tháng 7/2023 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp, điều này thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

. Về xử lý vật chứng, hình phạt bổ sung:

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Lê Thị Thu B 02 (hai) bàn inox; trả lại cho chị Ng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, BKS: 61U2 – 6362 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 (một) đĩa DVD-R chứa đoạn video ghi lại diễn biến hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 24/11/2023 của bị can Dương Tấn Tr.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì hành vi của bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị Thu B đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Ông Nguyễn Đức L là người mua 02 cái bàn inox của Dương Tấn Tr với giá 350.000 đồng. Ông L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 350.000 đồng. Gia đình bị cáo Dương Tấn Tr đã bồi thường toàn bộ số tiền trên cho ông L. Ông L đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Dương Tấn Tr phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dương Tấn Tr 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 27/11/2023).

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Dương Tấn Tr phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21-3-2024). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ