vanban.org

Bản án 36/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Ngọc T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023. Bồi thường thiệt hại:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày: 05-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Bình và ông Phạm Ngọc Đông

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/TLST-HS ngày 02/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 26/01/2024, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Ngọc T, giới tính: Nam; sinh ngày 20 tháng 9 năm 1998 tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ X, khu phố Y, phường T, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Võ Ngọc T và bà Phạm Thị Xuân N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

- Ngày 21/4/2014, bị Công an phường Trần Phú, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 23/9/2015, bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù của bản án số 59/2015/HSST ngày 15/5/2015 của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, buộc bị cáo phải chấp hành phạt của nhiều bản án là 16 tháng tù; chấp hành xong hình phạt ngày 17/8/2016.

Bị bắt tạm giam từ ngày 21/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Công ty cổ phần M

Địa chỉ: số R đường E, phường T, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn V H E – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Mai Anh T sinh năm 1992 là quản lý (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Số L đường H, phường G, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 07/9/2023, Võ Ngọc T đi bộ đến đoạn trước cửa hàng Điện máy xanh địa chỉ số D đường P, phường L, TP Quy Nhơn thì phát hiện cửa chính của cửa hàng mở, không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T lẻn vào trong cửa hàng định lấy điện thoại di dộng tại quầy trưng bày nhưng do điện thoại bị gắn dây nên không lấy được, T tiếp tục đi tới dãy tủ trưng đồng hồ lén lút chiếm đoạt 01 đòng hồ kim nam dây da màu nâu, nhãn hiệu “MVW ML048- 01” và 01 đồng hồ định vị trẻ em màu xanh đen, nhãn hiệu “Kidcare S88” (đựng trong hộp) để trên tủ trưng bày bên trong cửa hàng rồi mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 10 giờ ngày 08/9/2023, T đưa 02 đồng hồ chiếm đoạt cho đối tượng tên Yến (chưa rõ lai lịch) đi cầm để lấy tiền mua cỏ sử dụng.

Ngày 08/9/2023, anh Mai Tuấn A là quản lý cửa hàng làm việc kiểm tra thì phát hiện cửa hàng bị mất trộm nên báo cáo Công an phường Lê Hồng Phong xử lý.

Ngày 04/10/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự có kết luận số 110 kết luận:

+ 01 đồng hồ kim nam dây da, nhãn hiệu “”MVW ML048- 01”, màu nâu, chưa qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 07/9/2023 có trị giá 950.000 đồng.

+ 01 đồng hồ định vị trẻ em màu xanh đen, nhãn hiệu “Kidcare S88”, màu xanh đen, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 07/9/2023 có trị giá 2.600.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.550.000 đồng.

Về dân sự: Anh Mai Tuấn A yêu cầu bị cáo Võ Ngọc T bồi thường số tiền là 3.550.000 đồng cho Công ty cổ phần M, bị cáo chưa bồi thường.

- Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSQN ngày 31/12/2023 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Võ Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Võ Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Ngọc T từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Võ Ngọc T có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty cổ phần M 3.550.000 đồng.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Võ Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Võ Ngọc T xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, nên HĐXX có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 07/9/2023, bị cáo Võ Ngọc T phát hiện cửa hàng tại địa chỉ số D đường P, phường L, TP Quy Nhơn mở cửa chính, không có người trông coi, bị cáo Võ Ngọc T đã lẻn vào bên trong lén lút chiếm đoạt 01 đồng hồ kim nam dây da, nhãn hiệu “MVW ML048-01”, màu nâu, chưa qua sử dụng, trị giá 950.000 đồng; 01 đồng hồ định vị trẻ em màu xanh đen, nhãn hiệu “Kidcare S88”, màu xanh đen, trị giá 2.600.000 đồng của cửa hàng điện máy xanh. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.550.000 đồng.

Bị cáo Võ Ngọc T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị Toà án đưa ra xét xử và kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng rèn luyện trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Do tham lam, xem thường pháp luật, tài sản hợp pháp của người khác, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc trông coi, quản lý, lén lút chiếm đoạt nhiều tài sản của cửa hàng có trị giá 3.550.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Võ Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng:

4.1 Về nhân thân: Trước đây, bị cáo Võ Ngọc T đã bị Toà án đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nên được xem là có nhân thân xấu.

4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Võ Ngọc T không có tình tiết tăng nặng.

4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo Võ Ngọc T chiếm đoạt 02 đồng hồ của cửa hàng điện máy xanh (thuộc Công ty cổ phần M) có trị giá 3.550.000 đồng; 02 đồng hồ này không thu hồi được, do đó buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty cổ phần M số tiền 3.550.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vấn đề khác: Đối với đối tượng tên Yến là người nhận đi cầm cố 02 chiếc đồng hồ do bị cáo trộm cắp. Tuy nhiên, hiện không xác định rõ nhân thân, lai lịch của người này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Quy Nhơn tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Ngọc T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.

3. Bồi thường thiệt hại:

Buộc bị cáo Võ Ngọc T có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty cổ phần M số tiền 3.550.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được quyền yêu cầu bồi thường, hoàn trả có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ phải thi hành không trả hoặc trả không đầy đủ thì còn phải chịu tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ