vanban.org

Bản án 36/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 28/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Không xem xét, giải quyết. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; buộc bị cáo Sử Minh Nh phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử Minh N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày 28-02-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Viên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Bời

Ông Lưu Văn Có

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2024/TLST-HS ngày 04/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 25/01/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/HSST-QĐ ngày 05/02/2024 đối với bị cáo:

Sử Minh Nh (tên gọi khác: Bi); sinh ngày: 08/7/1988; nơi sinh: Khánh Hòa; hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ 20, thôn ĐN, xã VT, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sử Ngọc Th (đã chết) và bà Phạm Thị N; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Bản án số 88/2010/HSST ngày 04/5/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xử phạt 03 năm tù về tội: “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2011.

- Bản án số 128/2012/HSST ngày 20/6/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/5/2014.

- Bản án số 137/2016/HSPT ngày 15/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xử phạt 3 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2019.

- Bản án số 207/2020/HSST ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2021.

Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Ngô Anh Ph, sinh năm: 1978

Địa chỉ: Thôn PG, xã NA, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa;

Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Phạm Thị N, sinh năm: 1963

Địa chỉ: Tổ 20, thôn ĐN, xã VT, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 08/5/2023, Sử Minh Nh điều khiển xe máy kiểu dáng Sirius biển kiểm soát: 79D1 – 053.79 đến khu vực lầu 7, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang gặp thanh niên có tên gọi là “Đen” là bạn quen biết ngoài xã hội (chưa rõ lai lịch). Sau đó, cả hai bàn nhau đi trộm cắp tài sản. Nh và Đen chạy xe đến khu vực phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang, tới trước một công trình xây dựng tại 507 Lê Hồng Phong, phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang thì phát hiện có một lán trại, quan sát thấy cổng rào bằng lưới B40, không đóng kín, Nh và Đen dựng xe máy bên ngoài cửa rồi cả hai cùng đi vào trong, thấy một đầu máy nổ bằng kim loại để sát vách tôn nên khiêng ra ngoài, mang đi bán. Khi vừa khiêng tới cổng thì bị lực lượng tuần tra Công an phường Phước Hòa cùng chủ tài sản là anh Ngô Anh Ph phát hiện chạy tới bắt quả tang Nh cùng tang vật là đầu máy nổ, riêng Đen bỏ chạy thoát.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 337/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận, đầu máy nước nhãn hiệu D6 có giá là: 4.653.000đ.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 đầu máy nước hiệu D6 kích thước 30x50cm (đã trả lại cho chủ sở hữu ông Ngô Anh Ph); 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius màu trắng biển kiểm soát 79D1 – 503.79 (đã trả cho chủ sở hữu bà Phạm Thị N).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Ngô Anh Ph không yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSNT-HS ngày 26/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa để xét xử đối với bị cáo Sử Minh Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Sử Minh Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nh từ 09 tháng đến 15 tháng tù; vật chứng: 01 đầu máy nước hiệu D6 kích thước 30x50cm, 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius màu trắng biển kiểm soát 79D1 – 503.79 đã trả cho chủ sở hữu nên không xem xét, giải quyết; trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết; bị cáo Nh phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Sử Minh Nh đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại ông Ngô Anh Ph mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; xét thấy ông Ph đã có lời khai, việc vắng mặt của ông Ph không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Tại phiên tòa, bị cáo Sử Minh Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 16/CT-VKSNT-HS ngày 26/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Sử Minh Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Hành vi của bị cáo Sử Minh Nh là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về các tội xâm phạm sở hữu nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phát huy hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, an tâm cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Ngô Anh Ph đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về vật chứng của vụ án: 01 đầu máy nước hiệu D6 kích thước 30x50cm đã trả lại cho chủ sở hữu ông Ngô Anh Ph nên không xem xét, giải quyết;

Bà Phạm Thị N không biết Sử Minh Nh mượn xe máy hiệu Yamaha Sirius màu trắng biển kiểm soát 79D1 – 503.79 để đi trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra đx trả xe máy trên cho bà N là có căn cứ nên không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo Sử Minh Nh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Đối với nam thanh niên tên Đen (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Sử Minh Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Sử Minh Nh 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.

- Về vật chứng của vụ án: Không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; buộc bị cáo Sử Minh Nh phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ