vanban.org

Bản án 36/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 04/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 56 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KON TUM
TỈNH KONTUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:36/2024/HS-ST.
Ngày: 04/3/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân Anh và bà Lê Thị Ngọc Phượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy An – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy An - Kiểm sát viên.

Ngày 04/3/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/TLST - HS ngày 19/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1985 tại Nam Định. Nơi thường trú: Xóm 16, xã Đồng S , huyện Nam Tr c, tỉnh Nam Đinh; Nơi ở hiện tại: Số nhà 02 Ngách 22, hẻm 45/188 Trần Quang Kh , phường Năng T , thành phố Nam Đ , tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T , sinh năm 1965 và bà Vũ Thị Ch , sinh năm 1966, vợ bị cáo là Trương Thị Th , sinh năm 1989, bị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 115/2023/HS-ST.

Bị cáo đang thi hành án tai trại giam Nghĩa An - Bộ công an theo bản án số 115/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Phan Thị Kim O , sinh năm 1965

Địa chỉ: 01 Tô Vĩnh D , phường Trường Ch , thành phố Kon T , tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Văn M– sinh năm 1993.

Địa chỉ: Thôn Ân Kh , xã Bắc S , huyện Ân Th , tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2022, Trần Văn T (Sinh ngày: 04/04/1985, HKTT: Xóm 16, xã Đồng S , huyện Nam Tr , tỉnh Nam Định) nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Facebook nên sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng tạo tài khoản “Phòng vé Nha Trang” (ID: 10054855907923, Link” https:www.Facebook.com/bin.chuot.3954) đăng tải thông tin quảng cáo bán vé máy bay trực tuyến đi các nước, nếu ai có nhu cầu mua vé thì Tình sẽ yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB), số tài khoản 199328039999, chủ tài khoản là Đặng Văn M– tài khoản này Tình mua trên mạng xã hội Facebook và sử dụng để tránh bị phát hiện, sau khi nhận được tiền Tình không xuất vé mà chặn liên lạc và chiếm đoạt tiền của người bị hại.

Ngày 09/3/2023, bà Phan Thị Kim O(Sinh năm: 1965, trú tại: 01 Tô Vĩnh D , phường Trường Ch , thành phố Kon T , tỉnh Kon Tum) sử dụng tài khoản Facebook “Kim O – hàng Đức” nhắn tin vào tài khoản “Phòng vé Nha Trang” để đặt vé máy bay đi từ thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam đến Berlin, Đức, đi ngày 03/4/2023 cho con trai mình là Nguyễn Bá Thanh B , Trần Văn T yêu cầu bà O cung cấp thông tin hành khách bay cho Tình. Sau khi nhận được thông tin, Tình làm giả thông tin chuyến bay, mã đặt chỗ và gửi hình ảnh cho bà O để bà O tin tưởng, rồi Tình yêu cầu bà O chuyển khoản thanh toán 18.000.000 đồng để đặt vé. Khoảng 14 giờ ngày 10/3/2023, bà O đã chuyển số tiền 18.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng Thương mai cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), số tài khoàn 62510000282617, chủ tài khoản là bà O đến tài khoản số 199328039999, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB), chủ tài khoản là Đặng Văn Mtheo yêu cầu của Tình. Sau khi nhận được tiền, Trần Văn T đã chặn liên lạc với bà O và chiếm đoạt số tiền trên. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, Tình sử dụng chơi trò chơi trực tuyến và mua sắm trong (game online) hết. * Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ: Đối với chiếc điện thoại di động Iphone XS Max, màu trắng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chiếc điện thoại này đã bị Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tạm giữ và được xử lý tại Bản án số 115/2023/HSST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, hình thức tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

* Về trách nhiệm dân sự: Bà Phan Thị Kim Oyêu cầu bị cáo bồi thường 18.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSTPKT ngày 16/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, đã truy tố Trần Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng, và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Trần Văn T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 115/2023/HSST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, buộc bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung từ 36 tháng tù đến 39 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý nên không xem xét lại.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 18.000.000 đồng nên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố không tranh luận gì đối với Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị hại đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay và có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai của bị hại đã có tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật

Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 10/3/2023, với mục đích lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác, bị cáo Trần Văn T mặc dù không kinh dO dịch vụ bán vé máy bay nhưng đã sử dụng tài khoản Facebook “Phòng vé Nha Trang”, đưa ra thông tin gian dối quảng cáo bán vé máy bay trực tuyến đi các nước khiến cho bà Phan Thị Kim Otin tưởng chuyển cho Tình 18.000.000 đồng để đặt vé máy bay cho con trai mình là Nguyễn Bá Thanh Bình, đi từ thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam đến Berlin, Đức vào ngày 03/4/2023. Sau khi nhận được tiền, Tình chặn liên lạc với bà O và chiếm đoạt toàn bộ số tiền này. Hành vi đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản người khác của bị cáo Trần Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, cáo trạng số 30/CT-VKSTPKT ngày 16/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an. Bị cáo nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tiền dùng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả xảy ra và pháp luật quy định.

Về nhân thân,tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 28/11/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 115/2023/HS-ST, hành vi của bị cáo bị TAND huyện Bố Trạch xét xử, bị cáo thực hiện sau hành vi TAND thành phố Kon Tum xét xử.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Hội đồng xét xử căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 115/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra: Trong vụ án này, bị cáo khai nhận sử dụng số tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội (MB) số 199328039999, chủ tài khoản là Đặng Văn Mđể nhận và chiếm đoạt số tiền của bị hại, việc lừa đảo do một mình bị cáo thực hiện. Qúa trình điều tra, bị cáo khai đã mua thẻ ngân hàng này trên mạng xã hội Facebook, không nhớ người bán là ai. Hiện Đặng Văn Mđã đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh và xử lý khi có đủ căn cứ.

Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc điện thoại di động Iphone XS Max, màu trắng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chiếc điện thoại này đã bị Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tạm giữ và được xử lý tại Bản án số 115/2023/HSST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, hình thức tịch thu, sung quỹ Nhà nước nên HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án này.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Phan Thị Kim Ovắng mặt tại phiên tòa và đơn xin xét xử vắng mặt nhưng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 18.000.000 đồng mà bà O đã chuyển đến tài khoản số 199328039999, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB), chủ tài khoản là Đặng Văn Mtheo yêu cầu của bị cáo Tình. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận số tiền bị cáo đã lừa bà O và bị cáo thống nhất bồi thường số tiền 18.000.000 đồng cho bị hại. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu bồi thường của bà O, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) cho bà Phan Thị Kim O.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 (Mười hai) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự số 115/2023/HSST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, xử phạt bị cáo Tình 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, buộc bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015

Buộc bị cáo Trần Văn T phải bồi thường cho bà Phan Thị Kim Osố tiền là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng).

Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thực hiện đầy đủ khoản tiền bồi thường còn phải chịu lãi, theo mức lãi được quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 21, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng) tiền án dân sự sơ thẩm. Tổng cộng số tiền án phí bị cáo Trần Văn T phải nộp là: 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm ngàn đồng).

6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/3/2024) bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án để xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- VKSND TP Kon Tum;

- CCTHA DS TP Kon Tum;

- Công an TP Kon Tum;

- TAND tỉnh Kon Tum;

- VKSND tỉnh;

- Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;

- Phòng hồ sơ PV27 công an tỉnh Kon Tum;

- Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- VKSND TP Kon Tum;

- CCTHA DS TP Kon Tum;

- Công an TP Kon Tum;

- TAND tỉnh Kon Tum;

- TAND cấp cao tại Đà nẵng;

- Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;

- Phòng hồ sơ PV27 công an tỉnh Kon Tum;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ