vanban.org

Bản án 36/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 22/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh Th phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: * Tịch thu tiêu hủy: 582,06 gam Heroine; 290,2 gam Methamphetamine là ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định; Phần xốp và phần nilon ngoài cùng của bánh chất bột mà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Th - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh Th phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày: 11-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khanh.

Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Nhuận,

Ông Sùng A Xà,

Bà Hà Thị Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Phượng - Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Thanh Th, sinh ngày 25/8/1972, tại tỉnh Điện Biên. Nơi thường trú: Tổ X, thị trấn M, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Nơi ở hiện tại: Bản Tạ Cuông, xã Ẳng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh Ch, sinh năm 1928 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1938; Gia đình bị cáo có 07 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; Vợ: Lường Thị D, sinh năm 1994 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: 01 tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong ngày 19/12/2022, hiện chưa được xóa án tích. Bị cáo chưa bị xử lý hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/6/2023, tạm giam từ ngày 05/6/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh Th: ông Lê Đình Thu, sinh năm: 1960 – Luật sư Văn phòng luật sư Công Lý thuộc Đoàn luật sư tỉnh Điện Biên. Địa chỉ: Số nhà 44, tổ 02, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 5/2023 Trần Thanh Th đến nhà một người bạn tên là Kim Anh ở bản Hồng Sọt, xã Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, tại đây Thắng gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi giới thiệu tên là Thu nhưng không nói địa chỉ ở đâu, qua nói chuyện biết Thu có ma túy bán nên hai người cho nhau số điện thoại để liên lạc. Vài ngày sau Thắng gọi điện cho Thu đặt mua 06 túi Methamphetamine với giá 1.500.000 đồng/ 01 túi để sử dụng, khi đó Thu có hẹn chiều cùng ngày sẽ giao dịch mua bán ma túy tại khu vực bản Huổi Hom, xã Ẳng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Theo hẹn, Thắng đến gặp trả cho Thu 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) nhận 06 túi Methamphetamine, Thắng mang ma túy về nhà cho 06 túi Methamphetamine vào một mảnh giấy trắng gói lại rồi cất giấu sau chiếc quạt treo tường trong phòng ngủ, sau đó Thắng lấy một số viên trong 01 túi Methamphetamine còn lại ra sử dụng và cất giấu túi Methamphetamine này vào túi quần đang mặc. Thắng sử dụng xong thấy chất lượng không tốt, nên gọi điện bảo Thu bán cho 10 túi Methamphetamine loại tốt, với giá thỏa thuận 1.500.000 đồng/01 túi. Khoảng 02 ngày sau Thắng nhận được điện thoại của Thu hẹn đến địa điểm cũ để giao dịch, khi đến điểm hẹn Thu đưa cho Thắng 01 bọc giấy chống ẩm màu trắng bên trong có 10 túi Methamphetamine, Thắng lấy 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) trả cho Thu. Thắng về nhà cho số ma túy vừa mua vào một túi nilon màu trắng rồi để trên mặt chiếc loa nghe nhạc trong phòng ngủ để sử dụng dần. Khoảng cuối tháng 5/2023 Thắng nhận được điện thoại của người tên là Hoàn khoảng 35 tuổi nhà ở Hải Phòng mà Thắng quen biết trước đây khi còn làm thuê tại Hải Phòng đặt vấn đề mua 01 bánh Heroine. Ngay sau đó Thắng gọi điện cho Thu đặt mua 02 bánh Heroine với giá 90.000.000 đồng/01 bánh để mang về bán kiếm lời, đặt mua được Heroine, Thắng gọi điện cho Hoàn thỏa thuận giá bán 01 bánh Heroine là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) và thống nhất Hoàn sẽ chuyển trước 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) vào tài khoản của Thắng, khi nào nhận được Heroine Hoàn sẽ trả nốt số tiền còn lại. Thỏa thuận với Hoàn xong, Thắng gọi điện hẹn Thu chiều cùng ngày sẽ trao đổi mua bán ma túy tại địa điểm lần trước, đến điểm hẹn Thắng đưa cho Thu 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) và xin nợ lại 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng), Thu nhận tiền rồi đưa cho Thắng 02 bánh Heroine có vỏ ngoài màu xanh và để trong túi nilon màu đen. Thắng mang 02 bánh Heroine về nhà cho 01 bánh Heroine vào túi nilon màu trắng treo lên cột nhà trong buồng ngủ để bán cho Hoàn, sau đó Thắng dùng dao lam cắt lấy một phần của bánh Heroine còn lại và Thắng chia phần này thành 54 cục tương đương nhau rồi lấy giấy bạc màu trắng gói lại, Thắng lấy túi Methamphetamine để trong túi quần trước đó cùng với 54 gói Heroine cho vào 01 lọ nhựa màu trắng cất trong túi quần, phần bánh Heroine còn lại Thắng để trên nóc tủ quần áo, mục đích Thắng cất giấu số Heroine này để trả công cho người làm cà phê và có ai hỏi mua thì bán. Khoảng 15 giờ ngày 02/6/2023 Thắng dùng chiếc thìa nhôm tạo một hình chữ nhật ở đáy hộp xốp rồi lấy bánh Heroine treo ở trên cột nhà trong buồng ngủ đặt vào đáy hộp xốp và dùng băng dính dán cố định bánh Heroine, sau đó Thắng đặt một miếng xốp lên trên bánh Heroine, tiếp đến Thắng cho vỏ trấu và trứng gà phủ đầy hộp xốp, Thắng đậy nắp hộp xốp và dùng băng dính quấn quanh hộp xốp, sau đó Thắng lấy bút bi viết nội dung “NGƯỜI GỬI: HÀ PHƯƠNG, SĐT: 0796.022.722 NGƯỜI NHẬN: CHỊ PHƯƠNG, SĐT: 077.287.926, Đ/C: BẾN XE HẢI PHÒNG (Đã thanh toán tiền cước)” lên một mảnh giấy có dòng kẻ ôly rồi dán lên mặt hộp xốp để gửi cho Hoàn. Khoảng 16 giờ cùng ngày thấy vợ là Lường Thị Dung chuẩn bị đi chợ thì Thắng nhờ vợ mang thùng xốp chứa bánh Heroine ra gửi xe khách chạy tuyến Hải Phòng, khi đó Dung hỏi thì Thắng nói bên trong hộp xốp đựng trứng gà không cho Dung biết bên trong có ma túy. Dung điều khiển xe máy biển kiểm soát 27B2-225.87 của gia đình chở hộp xốp trên ra văn phòng nhà xe Lý Nghĩa tại tổ 8, thị trấn Mường Ảng, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, khi Dung mang hộp xốp vào văn phòng gửi, lúc đó có một nữ nhân viên nhận và mở nắp hộp xốp ra kiểm tra thì thấy bên trong chỉ có trứng gà và vỏ trấu nên dán lại, Dung trả 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) tiền cước rồi đi chợ. Khoảng 18 giờ cùng ngày Trần Văn Hùng là phụ xe biển kiểm soát 27F-000.54 của nhà xe Lý Nghĩa chạy tuyến Điện Biên – Hải Phòng vào văn phòng bê hộp xốp trên ra xe, chuẩn bị cho vào cốp xe thì Công an tỉnh Điện Biên đến kiểm tra phát hiện dưới đáy hộp xốp có 01 bánh Heroine khối lượng 300,6 gam. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày tổ công tác Công an tỉnh Điện Biên đến nhà Thắng ở bản Tọ Cuông, xã Ẳng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã phát hiện bắt quả tang và thu giữ trong túi quần Thắng 01 lọ nhựa màu trắng bên trong đựng 54 gói Heroine có khối lượng 9,01 gam và 01 túi Methamphetamine có khối lượng 11,6 gam.

Kết quả khám xét nơi ở của Thắng, tổ công tác tiếp tục thu giữ ở trong phòng ngủ của Thắng 01 bánh Heroine đã bị cắt một phần có khối lượng 276,2 gam được để trên nóc tủ quần áo và 15 túi Methamphetamine, trong đó 10 túi để trên mặt loa và 05 túi ở phía sau quạt treo tường có tổng khối lượng 285,8 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 899/KL-KTHS ngày 12/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Trần Thanh Th gồm 585,81 gam Heroine và 297,4 gam Methamphetamine. 03 (ba) mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Trần Thanh Th gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine). 16 (mười sáu) mẫu các viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Trần Thanh Th gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 982/KL-KTHS ngày 20/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Chữ viết trên tờ giấy dòng kẻ ô ly, có kích thước (23.7x10.4)cm, ký hiệu A với chữ viết đứng tên Trần Thanh Th trên hai “BẢN TỰ KHAI/BẢN TƯỜNG TRÌNH” ký hiệu M1, M2 là do cùng một người viết ra.

Bản Cáo trạng số 06/CT-VKS-P1, ngày 26/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Trần Thanh Th để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội“Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh Th từ 15 năm tù đến 16 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh Th 20 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 30 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 582,06 gam Heroine; 290,2 gam Methamphetamine là ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, xốp và nilon ngoài cùng của bánh chất bột màu trắng được niêm phong trong 01 (một) hộp bìa catton dán kín niêm phong lại, 01 hộp xốp đã bị cắt 01 miếng dưới đáy hộp, 01 lọ nhựa màu trắng, 08 quả trứng gà và vỏ chấu; 01 cân điện tử.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của bị cáo Trần Thanh Th.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh Th không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tích cực giúp đỡ cơ quan Điều tra để triệt phá tội phạm khác, bố bị cáo là người có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Thanh Th, để bị cáo sớm có cơ hội được trở về với gia đình và xã hội. Bị cáo không bổ sung thêm bài bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng bị cáo Trần Thanh Th thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm có cơ hội được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận giống như nội dung bản cáo trạng và các biên bản ghi lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản làm việc (BL 25-26), biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 27-28); biên bản khám xét (BL 31-32), biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ (BL 33-35), biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng (BL 36-38); kết luận giám định (BL 41,44) và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để xác định từ giữa tháng 5/2023 đến ngày 02/6/2023 bị cáo Trần Thanh Th đã có hành vi mua bán trái phép 585,81 gam Heroine để kiếm lời và tàng trữ trái phép 297,4 gam Methamphetamine để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Cáo trạng số 06/CT-VKS-P1, ngày 26/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 và điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Xét hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác, ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Thanh Th có 01 tiền án về tội ma túy: Ngày 19/01/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong ngày 19/12/2022, hiện chưa được xóa án tích. Như vậy bị cáo Trần Thanh Th phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo là ông Trần Thanh Chương được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, trong qua trình điều tra bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan Công an trong việc phát hiện tội phạm (Theo Giấy xác nhận ngày 22/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên – BL 143) nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ để cân nhắc hình phạt phù hợp với điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo; bởi sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo là người có công với cách mạng. Do đó, đề nghị của người bào chữa là có căn cứ để chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và các quy định của pháp luật. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời; tuy đã được các cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn kịp thời; nhưng khối lượng chất ma túy mà bị cáo tàng trữ, trao đổi mua bán trái phép là rất lớn, nếu không được các cơ quan chức năng ngăn chặn kịp thời thì hậu quả mà bị cáo gây ra cho xã hội là rất nghiêm trọng, biết bao nhiêu gia đình phải tan vỡ, nghèo nàn vì tệ nạn ma túy gây ra. Do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để trừng trị bị cáo và làm bài học, cảnh báo chung cho toàn xã hội, đảm bảo sự trừng phạt đối với người phạm tội; răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp chính của bị cáo trước khi bị bắt là làm nông nghiệp, không có nguồn thu nhập nào khác, điều kiện kinh tế khó khăn; nếu có áp dụng thì bị cáo cũng không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát về việc không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo là có căn cứ để chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 582,06 gam Heroine; 290,2 gam Methamphetamine là ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, phần xốp và phần nilon ngoài cùng của bánh chất bột màu trắng được niêm phong trong 01 (một) hộp bìa catton dán kín niêm phong lại, 01 hộp xốp đã bị cắt 01 miếng dưới đáy hộp, 01 lọ nhựa màu trắng, 08 quả trứng gà và vỏ chấu; 01 cân điện tử là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, công cụ dùng vào việc phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của bị cáo Trần Thanh Th, bị cáo sử dụng vào việc trao đổi, mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Bị cáo Trần Thanh Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên Kim Anh và người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy tên là Thu và người mua ma túy tên là Hoàn. Do Thắng không biết rõ nhân thân, lai lịch, quá trình điều tra không đủ điều kiện để điều tra xác minh làm rõ, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Trần Thanh Th khai khi liên lạc mua ma túy người đàn ông tên Thu dùng số điện thoại 0853.364.799, kết quả tra cứu chủ thuê bao số điện thoại này là Lê Đình Huệ, sinh năm 1982, cư trú tại thôn Đại Đồng, xã Thiệu Giao, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhưng tháng 5/2023 Lê Đình Huệ đã cắt khẩu chuyển đến sinh sống tại tổ 27, ấp Bến Sắn, xã Phước Điền, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, qua quá trình làm việc Lê Đình Huệ cho biết không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, nên không có căn cứ để xử lý.

Kết quả điều tra xác minh số tài khoản 0796.002.722 do Thắng đăng ký tại ngân hàng MB thì vào ngày 31/5/2023 có phát sinh 160 triệu đồng từ số tài khoản 989988888998 do một người tên là Nguyễn Quang Hoàn, sinh năm 1984, cư trú tại tổ dân phố 4, phường Tràng Cát, quận Hải An, thành phố Hải Phòng đăng ký tại ngân hàng MB, hiện Nguyễn Quang Hoàn đã bị khởi tố và tạm giam trong một vụ án khác. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc Nguyễn Quang Hoàn cho biết số tiền 160 triệu đồng chuyển vào tài khoản của Thắng là tiền phần trăm từ các công trình xây dựng do Thắng giới thiệu cho Hoàn và Hoàn khẳng định không mua bán ma túy với ai tên là Thắng. Hội đồng xét xử xét thấy chưa có đủ cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Quang Hoàn trong vụ án này mà cần tách ra để tiếp tục điều tra làm rõ nếu có đủ căn cứ thì xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Thanh Th nhờ vợ là Lường Thị Dung mang hộp xốp ra văn phòng nhà xe Lý Nghĩa gửi đi Hải Phòng và trả tiền cước, Thắng nói với Dung bên trong hộp xốp đựng trứng gà, không cho Dung biết bên trong có ma túy. Nên không có đủ cơ sở xử lý đối với Dung. Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chủ thuê bao số điện thoại 0772.287.926 do Trần Thanh Th ghi ở tờ giấy dán trên hộp xốp chứa bánh Heroine là của Đồng Thái Cơ, sinh năm 1966, cư trú tại tổ 12, phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng. Kết quả làm việc Đồng Thái Cơ khẳng định không đăng ký và sử dụng số thuê bao trên. Nên không có đủ cơ sở để xử lý đối với Đồng Thái Cơ. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 249, điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh Th phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thanh Th 15 (mười lăm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thanh Th 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp chung cho cả hai tội buộc bị cáo Trần Thanh Th phải chấp hành là 30 (ba mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: 582,06 gam Heroine; 290,2 gam Methamphetamine là ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định; Phần xốp và phần nilon ngoài cùng của bánh chất bột màu trắng được niêm phong trong 01 (một) hộp bìa catton dán kín niêm phong lại; 01 hộp xốp màu trắng, dạng hình hộp chữ nhật, đã bị cắt 01 miếng dưới đáy hộp, đã cũ và qua sử dụng; 01 lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy, đã cũ và qua sử dụng; 08 quả trứng gà và vỏ chấu; 01 chiếc cân điện tử, đã hỏng.

* Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng màu đen, viền vàng, nhãn hiệu OPPO, đã cũ và qua sử dụng thu giữ của bị cáo Trần Thanh Th.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 27/12/2023 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thanh Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/3/2024)./.

Cỡ chữ