- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc N và Trần Văn K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 10-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiềm Quốc Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sang
2. Bà Lê Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Thiện - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quốc N, sinh năm: 1994 tại Hậu Giang.
Nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H và bà: Trương Thị D, vợ: Nguyễn Thị T (đã ly hôn), có 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam Kênh 7 - Bộ Công an. (Có mặt).
2. Trần Văn K, sinh năm: 1996 tại Hậu Giang.
Nơi cư trú: Ấp 3A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T và bà: Lê Thị M, vợ: Lê Thị Yến N, có 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/3/2023 bị Công an huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính 5.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái pháp và hành vi Hủy hoại tài sản của cá nhân; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: Ngày 29/7/2023. (Có mặt).
- Bị hại: Huỳnh Hoàng P, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Số 8A, khu vực A, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Phan Thị D, sinh năm: 1971; Địa chỉ: Ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt).
+ Trần Văn T, sinh năm: 1963; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt).
+ Nguyễn Hồng N, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào rạng sáng ngày 05/6/2023, Nguyễn Quốc N điện thoại cho Trần Văn K rủ K cùng đi cướp giật tài sản của người khác thì K đồng ý nên N chạy xe mô tô hiệu Exciter màu xanh, đỏ, trắng (không rõ biển số) đến nhà của K. Sau đó, N đưa xe cho K điều khiển, còn N thì ngồi phía sau đi từ xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đến địa bàn quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ để tìm tài sản cướp giật. Khi K điều khiển xe mô tô đến đường Trương Vĩnh Nguyên theo hướng từ cầu ấp Mỹ về cầu Ông Tiêm trước nhà số 134B, đường T, khu vực T, phường T, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thì phát hiện anh Huỳnh Hoàng P đang điều khiển xe mô tô biển số 65V1 - **** đi theo hướng ngược lại có đeo sợi dây chuyền vàng trên cổ nên K điều khiển xe quay lại áp sát phía bên trái của anh P. Lúc này, N ngồi sau dùng tay giật mạnh sợi dây chuyền làm anh P bị ngã xuống xe, còn sợi dây chuyền bị rơi xuống đường nên K dừng xe mô tô để N bước xuống, trên tay cầm theo 01 con dao xếp nhằm mục đích để chống trả khi bị anh P tấn công. N nhanh chóng nhặt sợi dây chuyền rồi lên xe mô tô để cùng với K tẩu thoát. Sau đó, K điều khiển xe mô tô đi đến tiệm vàng H thuộc thị trấn Một Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang bán sợi dây chuyền cướp giật được với giá 28.000.000 đồng. K và N chia nhau mỗi người 14.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Sau khi bị cướp giật tài sản, anh P đến cơ quan Công an trình báo và giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa DVD bên trong chứa 01 video độ dài khoảng 28 giây có ghi lại hình ảnh anh P bị cướp giật tài sản và 01 ảnh chụp anh P có đeo sợi dây chuyền vàng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 75/TCKH-HĐĐG ngày 04/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng vàng 15K, trọng lượng 1,06 lượng có giá là 34.769.060 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quốc N và Trần Văn K đã thừa nhận hành vi cướp giật tài sản như đã nêu trên.
Đối với xe mô tô hiệu Exciter màu xanh, đỏ, trắng và 01 con dao xếp đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thu giữ do có liên quan đến hành vi cướp giật tài sản vào ngày 23/6/2023 của Nguyễn Quốc N tại địa bàn huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
Chị Phan Thị D là chủ tiệm vàng H khai nhận, do lượng khách ra vào để mua bán mỗi ngày ở tiệm đông, không có sổ lưu trữ nên không thể xác định được việc Trần Văn K có đến tiệm để bán sợi dây chuyền nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để thu hồi lại tang vật.
Về trách nhiệm dân sự, gia đình của Nguyễn Quốc N và Trần Văn K đã thỏa thuận bồi thường cho anh Huỳnh Hoàng P số tiền 34.800.000 đồng, anh P đã nhận đủ tiền nên không có yêu cầu gì thêm. Đồng thời, anh P có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Quốc N và Trần Văn K.
Tại Bản cáo trạng số 34/CT-VKS-CR ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã truy tố Nguyễn Quốc N và Trần Văn K cùng về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quốc N và Trần Văn K vẫn thừa nhận hành vi phạm tội như đã khai trong quá trình điều tra và nội dung cáo trạng truy tố, các bị cáo chỉ xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn T không có ý kiến hay yêu cầu gì về số tiền đã bỏ ra bồi thường cho bị hại.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của từng bị cáo. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc N và bị cáo Trần Văn K mỗi bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù cùng về tội Cướp giật tài sản. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 13/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, buộc bị cáo Nguyễn Quốc N phải chấp hành hình phạt chung. Đồng thời, đề nghị tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD thu giữ trong vụ án và buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hội đồng xét xử xét thấy, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện một cách nhất quán, đảm bảo tính khách quan, tính liên quan và hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng cũng đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho những người tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa hôm nay, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với các chứng cứ và tài liệu thu thập được, đã chứng minh được rằng, vào rạng sáng ngày 05/6/2023, các bị cáo Nguyễn Quốc N và Trần Văn K đã có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Exciter áp sát giật lấy sợi dây chuyền vàng 15K của anh Huỳnh Hoàng P đang đeo trên cổ. Tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt qua định giá có giá trị là 34.769.060 đồng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo dùng xe mô tô cùng để thực hiện việc cướp giật dây chuyền của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Quốc N và Trần Văn K đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng là dùng thủ đoạn nguy hiểm theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự như Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ pháp luật.
Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đang ra sức xây dựng một xã hội văn minh, mọi người phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, xem pháp luật là thước đo chuẩn mực của đời sống xã hội nhưng các bị cáo không thực hiện theo tinh thần, chủ trương đó mà làm ngược lại, cướp giật tài sản của người khác. Sau khi giật sợi dây chuyền của bị hại rơi xuống đất, các bị cáo vẫn không từ bỏ mà quay lại cầm hung khí chuẩn bị sẵn nhằm mục đích chống trả lại nếu bị tấn công để nhằm chiếm đoạt cho được tài sản. Điều đó cho thấy, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hết sức liều lĩnh, táo bạo, thể hiện bản chất xem thường pháp luật, thích hưởng thụ nhưng lại lười biếng lao động. Do đó, đối với các bị cáo cần có hình phạt nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại cũng có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Trong vụ án này, có 02 bị cáo cùng thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác. Bị cáo N là người rủ rê bị cáo K đi cướp giật tài sản và chính bị cáo chuẩn bị xe mô tô để làm công cụ đi cướp giật tài sản và ra tay giật sợi dây chuyền của bị hại. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo còn thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản trên địa bàn huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Nhân thân của bị cáo xấu, vào ngày 15/11/2012, bị cáo còn bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản. Mặc dù không xác định bị cáo có tiền án do khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nhưng bị cáo không biết sửa đổi mà lại tiếp tục việc chiếm đoạt tài sản của người khác. Còn bị cáo K, sau khi được bị cáo N rủ đi cướp giật tài sản của người khác thì liền đồng ý và dùng xe mô tô của bị cáo N để chở bị cáo N đi cướp giật tài sản. Bị cáo còn có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép và hủy hoại tài sản của cá nhân nhưng chưa được xóa. Hình phạt áp dụng đối với bị cáo N cần cao hơn bị cáo K.
Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 13/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Nguyễn Quốc N bị xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, cần tổng hợp hình phạt theo bản án này để buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung.
Về trách nhiệm dân sự, bị hại Huỳnh Hoàng P đã được bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc N và Trần Văn K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc N 04 năm tù.
Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 13/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, buộc bị cáo Nguyễn Quốc N phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23/6/2023.
2. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/7/2023.
3. Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong chứa 01 video độ dài 28 giây có ghi lại hình ảnh anh P bị cướp giật tài sản và 01 ảnh chụp anh P đeo sợi dây chuyền vàng.
4. Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Quốc N và Trần Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Cần Thơ; - Viện KSND quận Cái Răng; - Cơ quan CSĐT Công an quận Cái Răng; - Chi cục THADS quận Cái Răng; - Nhà tạm giữ Công an quận Cái Răng; - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thiềm Quốc Khanh |