vanban.org

Bản án 36/2024/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 21/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Huỷ bỏ Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 83/2023/HSST-QĐCĐKNCT ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Đỗ Hữu D. Giao bị cáo Đỗ Hữu D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Hữu D - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 330 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-PT
Ngày 21-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Duy Thạch

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ

Ông Nguyễn Hồng Giang

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Sông Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 09/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Hữu D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2023/HS-ST ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Hữu D, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: TA,B,C; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hữu M và bà Lê Thị Th; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07 tháng 11 năm 2023, đến ngày 13 tháng 11 năm 2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Hữu D: Bà Lương Thị T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người có quyền lợi liên quan đến vụ án:

+ Ông Vũ Thượng T1, sinh năm 1984; nơi công tác: Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1983; nơi công tác: Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào Kế hoạch số 2307 ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng, vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 07 tháng 11 năm 2023, Tổ Công tác của Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng phối hợp với Công an huyện Kiến Thuỵ trong việc thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm chuyên đề về nồng độ cồn trên tuyến Đường 363 thuộc khu vực thôn Trà Phương, xã Thuỵ Hương, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng. Tổ Công tác đã tiến hành đặt biển báo, cọc tiêu theo chiều dọc của tuyến đường để tạo chốt kiểm tra.

Khoảng 19 giờ 35 phút cùng ngày, đồng chí Vũ Hoài N là thành viên Tổ Công tác phát hiện phía trước khoảng 20m có 01 xe mô tô hiệu Exciter, biển kiểm soát 29V1-627.11 do Đỗ Hữu D điều khiển theo hướng từ xã Hữu Bằng về xã Thuỵ Hương nên đã ra tín hiệu dừng xe bằng gậy chỉ huy giao thông, đèn và còi. Đỗ Hữu D không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà điều khiển xe bỏ chạy. Cùng lúc này, đồng chí Vũ Thượng T1 đang đứng phía sau đồng chí Nam, cách khoảng 05m đang cầm máy đo nồng độ cồn và cầm gậy chỉ huy giao thông tiếp tục ra hiệu lệnh dừng xe nhưng D vẫn không chấp hành và tiếp tục bỏ chạy. Xe mô tô do Đỗ Hữu D điều khiển đã va vào người đồng chí T1, làm đồng chí T1 bị ngã, xây xước da ở khuỷu tay trái; rách, bong tróc lớp phản quang của áo Cảnh sát giao thông; máy đo nồng độ cồn, mũ kêpi, bộ đàm bị rơi xuống đường. Đỗ Hữu D tiếp tục điều khiển xe mô tô bỏ chạy, lúc này đồng chí Nguyễn Thành Tr đứng phía sau đồng chí T1 khoảng 10m thấy vậy liền dùng còi, đèn pin, gậy chỉ huy giao thông tiếp tục ra hiệu lệnh dừng xe nhưng D vẫn không chấp hành mà điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Xe mô tô do Đỗ Hữu D điều khiển đã va vào đồng chí Trung, làm đồng chí Trung bị ngã, mũ kêpi, đèn pin bị rơi xuống đường. Sau đó Đỗ Hữu D điều khiển xe mô tô bỏ chạy về đến nhà thì bị Tổ Công tác Công an huyện Kiến Thuỵ bám đuổi, bắt giữ. Kiểm tra thấy Đỗ Hữu D không có nồng độ cồn trong khí thở, không có chất ma tuý trong nước tiểu.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 12 tháng 11 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đã khởi tố vụ án; ngày 13 tháng 11 năm 2023, đã khởi tố bị can đối với Đỗ Hữu D về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Hữu D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 07/QĐ-VKSKT ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đã truy tố Đỗ Hữu D về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 330, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Hữu D 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Trừ cho Đỗ Hữu D 07 ngày tù do đã bị tạm giữ (từ 07 tháng 11 năm 2023 đến ngày 13 tháng 11 năm 2023). Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáovà quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08 tháng 12 năm 2023, bị cáo Đỗ Hữu D có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm Đơn đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo của ông Vũ Thượng T1; của Chi uỷ thôn 5 và UBND xã B, huyện Kiến Thuỵ. Bị cáo cũng thừa nhận lời khai tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm là đúng, nguyên nhân bị cáo phạm tội là sợ bị thu giữ xe do sử dụng xe không chính chủ; bị cáo rất hối hận và xin được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Hữu D nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất, mức độ của vụ án; đến nhân thân, nhận thức pháp luật hạn chế, đến hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thuộc hộ cận nghèo, đang nuôi em nhỏ học lớp 9; được địa phương xác nhận gia đình có công với cách mạng; sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi liên quan đến vụ án, Chi uỷ thôn 5 và UBND xã B có đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc giải quyết kháng cáo như sau: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 06 tháng tù đối với bị cáo là có căn cứ. Nhưng sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi liên quan đến vụ án đã có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo; Chi uỷ thôn 5, xã B và UBND xã B đã có văn bản đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời nhận trách nhiệm giám sát bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngoài lần phạm tội này, được địa phương nhận xét là chấp hành tốt pháp luật, chính sách của địa phương, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để được hưởng án treo. Hơn nữa, cũng cần xem xét hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn, mẹ bỏ đi từ nhỏ, bố đã mất, gia đình thuộc diện cận nghèo, bị cáo là người duy nhất lao động nuôi em gái hiện đang học lớp 9. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Hữu D đã đúng thủ tục, trong thời hạn luật định, đúng với quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

- Xét kháng cáo của bị cáo:

Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Đỗ Hữu D: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận đã có hành vi đúng như nội dung của bản án sơ thẩm. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ 35 phút, ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại khu vực Đường 363 thuộc thôn Trà Phương, xã Thuỵ Hương, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng, Đỗ Hữu D không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của Tổ cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ kiểm tra, đo nồng độ cồn, điều khiển xe mô tô bỏ chạy, va vào các đồng chí Vũ Thượng T1, Nguyễn Thành Tr làm các đồng chí bị ngã xuống đường, bị thương tích nhẹ, làm hư hỏng trang phục cảnh sát giao thông. Hành vi của Đỗ Hữu D đã cản trở người thi hành công vụ về việc kiểm tra đo nồng độ cồn của Tổ Công tác do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng phối hợp với Công an huyện Kiến Thuỵ thực hiện theo Kế hoạch của Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Hữu D đã vi phạm khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự, phạm tội “Chống người thi hành công vụ”

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc hộ cận nghèo tại địa phương, gia đình có người có công với cách mạng, bị cáo hiện đang nuôi em nhỏ đang học Lớp 9 Trường Trung học cơ sở B, được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Vũ Thượng T1 có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xin cho bị cáo được hưởng án treo; Chi uỷ thôn 5 và UBND xã B có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, địa phương nhận trách nhiệm giám sát bị cáo trong thời gian chấp hành án. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Tuy nhiên tại giai đoạn phúc thẩm, người có quyền lợi liên quan đến vụ án, chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và nhận trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo; đây là những tình tiết mới. Mặt khác bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; nguyên nhân bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do nhận thức pháp luật hạn chế. Do đó, cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở chấp nhận. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục.

Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Hữu D; sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Hữu D.

2. Tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ khoản 1 Điều 330, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Hữu D 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Huỷ bỏ Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 83/2023/HSST-QĐCĐKNCT ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Đỗ Hữu D.

Giao bị cáo Đỗ Hữu D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2019.

“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan”

3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.”

3. Về án phí hình sự: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ