- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Minh H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-P7 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2024/HS-PT Ngày: 28 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.
Các Thẩm phán:
Ông Võ Trung Hiếu.
Ông Nguyễn Lê Huy
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 21/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Văn Minh H do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang đối với bị cáo:
Phạm Văn Minh H, sinh năm 1984, tại Tiền Giang; căn cước công dân số: 082084023685; Nơi cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1946 (chết) và bà Phạm Thị T; Vợ: Phạm Thị Mộng T1; Con có 02 người; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Trần Văn H1, sinh năm 1992 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
2. Anh Đỗ Hoàng H2, sinh năm 2000 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 người bị hại không có kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng 13 giờ ngày 30/01/2023, anh Trần Văn H1, cùng bà Trần Kim H3, đi qua nhà bị cáo để thăm bà Phạm Thị T (bà T là mẹ bị cáo cũng là bà nội anh Trần Văn H1). Đến nơi, không thấy bị cáo ở nhà nên qua nhà bà Nguyễn Thị H4 (nhà bà H4 kế bên nhà bị cáo), ngồi chờ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi nhìn thấy chị Phạm Thị Mộng T1 (là vợ bị cáo) vừa về đến nhà. Bà H3 đi đến gặp T1 để nói chuyện. Trong lúc nói chuyện, bà H3 và chị T1 xảy ra mâu thuẫn, cự cãi và đánh nhau. Anh Trần Văn H1 đang ở bên nhà bà H4 nghe tiếng cãi nhau nên chạy qua can ngăn. Lúc này bị cáo đang ở trong nhà, nghe tiếng la của chị T1 nên đi lên và nhìn thấy chị T1 và bà H3 đánh nhau. Bị cáo trở vào trong nhà, lấy 01 con dao có chiều dài 53cm (cán dao bằng gỗ dài 27cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm). Bị cáo cầm con dao ở tay phải, đi lên chém 01 cái, anh Trần Văn H1 dùng tay đỡ thì bị trúng vào lòng bàn tay trái. Sau khi chém anh Trần Văn H1 xong bị cáo cùng chị T1 đi vào nhà đóng cửa lại. Sau đó, anh Trần Văn H1 được đưa đến Trung tâm Y tế huyện T để điều trị vết thương. Đến ngày 08/02/2023, anh Trần Văn H1 gửi đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo.
Vụ thứ 2: Đến khoảng 17 giờ, ngày 26/3/2023, bà Nguyễn Thị H4 và con dâu tên Huỳnh Thị T2, đang cuốc đất lấp đường nước thải vệ sinh tại phần đất giáp ranh với đất của bị cáo. Trong lúc cuốc đất, chị T1 (là vợ bị cáo) nhìn thấy nên chạy ra xem thì xảy ra cự cãi dẫn đến đánh nhau với chị T2. Lúc này bị cáo ở trong nhà, nghe tiếng cự cãi nên chạy ra xem. Khi bị cáo chạy ra thì nhìn thấy ông Đỗ Văn H5 (chồng bà H4) đang cầm cái cuốc nên bị cáo chạy đến cự cãi với ông H5 và giật cái cuốc với ông H5. Khi nhìn thấy các bên cự cãi, giật cuốc, bà Phạm Thị T (chị ông H5, đang ở trong nhà bà H4) kêu anh Đỗ Hoàng H2 (cũng đang ở trong nhà bà H4) ra chỗ cãi nhau xem sự việc. Khi ra đến nơi, anh H2 nhìn thấy ông H5 và bị cáo đang giật cái cuốc nên anh H2 đi lại phụ giật cái cuốc với ông H5. Khi giật được cái cuốc, anh H2 đưa cái cuốc cho ông H5 đem cất. Sau đó anh H2 với bị cáo xảy ra đánh nhau bằng tay. Sau khi bị cáo và anh H2 buông nhau ra thì anh H2 đi qua nhà bà H4 lấy 01 khúc cây gỗ dài khoảng 01 mét đi trở lại và đánh chị T1 02 cái trúng vào hông nhưng không gây thương tích. Thấy vậy, bị cáo đi vào sau nhà bị cáo, lấy 01 đoạn kim loại có dạng hình trụ (dùng để bẻ sắt, thép trong xây dựng, thường gọi là càng cua), có chiều dài 35cm, đường kính 1,3cm. Bị cáo cầm đoạn kim loại trên tay phải đánh H2 02 cái trúng vào vùng trán trước đầu, gây chảy máu. Bị cáo và chị T1 thấy anh H2 bị chảy máu nên chạy vào nhà đóng cửa lại. Sau đó, anh H2 được đưa đến Trung tâm y tế huyện T để điều trị. Đến ngày 29/3/2023 anh H2 gửi đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo về hành vi cố ý gây thương tích.
* Theo giấy chứng nhận thương tích số 173/CN ngày 03/02/2023 của Trung tâm Y tế huyện T, xác nhận thương tích của anh Trần Văn H1 như sau: Vết thương lòng bàn tay trái KT # 06 x 02cm. Theo bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 132/2023/KLTTCT-TTPY ngày 11/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang có nội dung: Sẹo vết thương mặt lòng liên đốt 1, 2 ngón II bàn tay trái. Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Văn H1 là 02% (hai phần trăm). Kết luận khác: Xác định vật gây thương tích: Thương tích Trần Văn H1 do vật sắc gây nên. Không xác định thương tích tạm thời hay vĩnh viễn.
* Theo giấy chứng nhận thương tích số 402/CN ngày 29/3/2023 của Trung tâm y tế huyện T xác nhận thương tích của anh Đỗ Hoàng H2 như sau: Vết thương trán phải, KT # 05 x 02cm. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 230/2023/KLTTCT-TTPY ngày 20/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang có nội dung: Kết quả khám giám định. Sẹo vết thương vùng trán phải. Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đỗ Hoàng H2 là 06% (sáu phần trăm). Kết luận khác: Xác định vật gây thương tích: Thương tích Đỗ Hoàng H2 do vật tầy gây nên. Phân tích tỷ lệ phần trăm từng vết thương: Sẹo vết thương vùng trán phải. Tỷ lệ: 06% (sáu phần trăm). Không xác định tổn thương cơ thể tạm thời hay vĩnh viễn.
* Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) dao tổng chiều dài 53cm (cán dao bằng gỗ dài 27cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm), mũi bằng, phần rộng nhất của lưỡi dao là 07 cm, phần hẹp nhất của lưỡi dao là 03 cm; 01 (một) đoạn kim loại có dạng hình trụ (dùng để bẻ sắt, thép trong xây dựng, thường gọi là càng cua), có chiều dài 35cm, đường kính 1,3cm, ở hai đầu được làm dẹp và tạo khoen.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn H1 và Đỗ Hoàng H2 không có yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Minh H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Minh H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, bị cáo Phạm Văn Minh H có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-P7 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang, giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang để điều tra lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Bị cáo Phạm Văn Minh H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, Đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-P7 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử, cụ thể: Khoảng 13 giờ ngày 30/01/2023, bị cáo có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém anh Trần Văn H1 gây thương tích 02%. Ngày 26/3/2023 bị cáo tiếp tục có hành dùng đoạn sắt dài 35cm đánh vào đầu anh Đỗ Hoàng H2 gây thương tích 06%. Cho nên cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Phạm Văn Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích” là có cơ sở.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có cơ sở. Bởi lẽ, tại phiên toà phúc thẩm qua phần tranh tụng xét hỏi đã xác định bị cáo Phạm Văn Minh H đã hai lần thực hiện hành vi gây thương tích cho hai người ở hai thời điểm khác nhau, mỗi lần thực hiện hành vi gây thương tích đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do đó bị cáo phải bị khởi tố, điều tra và truy tố theo điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự mới đúng khung hình phạt, nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng áp luật, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Để đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội đúng quy định pháp luật, nghĩ cần huỷ bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang để điều tra, truy tố lại cho đúng quy định.
Do huỷ án sơ thẩm nên kháng cáo của bị cáo chưa được xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-P7 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
2. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang để điều tra lại.
3. Án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện T; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - THADS huyện T; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mai Văn Hùng Cường |