- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn N, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 03-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, t nh Tây Ninh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2024/HS-PT Ngày: 02-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Bình;
Ông Trần Thanh Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê M nh H ng - Th ký Tòa án nhân dân t nh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc V ơng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2024 t i Tòa án nhân dân t nh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 24/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo Lê Văn N; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 03-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, t nh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Văn N; sinh năm 1988, t i t nh B c Liêu; Nơi đăng ký th ờng trú: ấp G, xã T, thị xã G, t nh B c Liêu; Nơi t m trú: ấp P, xã P, huyện G, t nh Tây Ninh; Nghề nghiệp: làm m ớn; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Minh T, sinh năm 1955 và bà Ph m Thị Đ, sinh năm 1959; Vợ, con: ch a có; Tiền sự, tiền án: không có. Bị cáo bị t m giữ ngày 31/10/2023 đến ngày 03/11/2023 bị t m giam đến nay, có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH Một thành viên C. Địa ch : số A, đ ờng Đ, Ph ờng A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông L u Hy V, sinh năm 1987- Chức danh: giám đốc. Địa ch : 4 P, Ph ờng H, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh.
Ng ời đ i diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị Ánh T1, sinh năm 1995. Địa ch : số C đ ờng G, ấp P, xã P, huyện G, t nh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/7/2023, Lê Văn N xin vào làm nhân viên giao nhận hàng t i B u cục B, khu vực T thuộc ấp P, xã P, huyện G, t nh Tây Ninh do bà Đỗ Thị Ánh T1 quản lý là địa điểm kinh doanh của Công ty TNHH Một thành viên C –Chi nhánh B1. Trong quá trình làm việc, N biết đ ợc mật khẩu mở két sắt đựng tiền của B u cục 276C02 nên nảy sinh lấy trộm tiền để tiêu xài cá nhân.
Khoảng 19 giờ ngày 30/10/2023, N nhìn thấy chị Nguyễn Thị Thanh T2 là nhân viên thu ngân làm chung với N t i B u cục 276C02 bỏ tiền vào trong két sắt khóa l i, chìa khóa vẫn cắm trong két sắt và ra về , N cũng ra về phòng trọ thuê t i nhà trọ S thuộc ấp P, xã P, huyện G, t nh Tây Ninh. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, N đi bộ từ phòng trọ đến B u cục 276C02 lấy trộm số tiền 48.900.000 đồng sau đó thuê xe về nhà t i t nh B c Liêu thì bị phát hiện. Ngày 31/10/2023, N đến Ngân hàng V1 chi nhánh t i thành phố M, t nh Tiền Giang chuyển trả l i số tiền 48.900.000 đồng cho B u cục 276C02 qua tài khoản của bà Đỗ Thị Ánh T1 và đến Công an xã P, huyện G, t nh Tây Ninh đầu thú.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn N đã trả l i số tiền 48.900.000 đồng nên công ty C không yêu cầu bồi th ờng.
Trong quá trình điều tra, đại diện theo ủy quyền của bị hại – bà Đỗ Thị Ánh T1 trình bày: Công ty TNHH Một thành viên C đã nhận l i tài sản bị mất là số tiền 48.900.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi th ờng thiệt h i. Về hình ph t Công ty TNHH Một thành viên C xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 03-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử ph t bị cáo Lê Văn N 01 (một) năm t về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời h n chấp hành hình ph t t đ ợc tính từ ngày 31-10-2023.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về các biện pháp t pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08-01-2024, bị cáo Lê Văn N làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.
T i phiên toà phúc thẩm, bị cáo N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Tây Ninh đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo N không tranh luận.
Lời nói sau c ng của bị cáo: bị cáo thấy mình sai mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo để có điều kiện trở về chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện viện kiểm sát, bị cáo Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, tuyên án ngày 03/01/2024; ngày 08/01/2024 bị cáo N làm đơn kháng cáo, kháng cáo của bị cáo trong h n luật định nên đ ợc xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 20 giờ ngày 30/10/2023, t i khu vực ấp P, xã P, huyện G, bị cáo Lê Văn N đã lợi dụng đêm tối, sự sơ hở, mất cảnh giác của ng ời quản lý tài sản, lẻn vào B u cục 276C02 thuộc Công ty TNHH Một thành viên C lấy trộm số tiền 48.900.000 đồng thì bị phát hiện.
Sau khi bị phát hiện, bị cáo đã chuyển trả số tiền 48.900.000 đồng đã chiếm đo t cho công ty, công ty không yêu cầu bồi th ờng thêm và xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm ph m đến quyền sở hữu của công ty đ ợc pháp luật bảo vệ. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định t i khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật và xử ph t bị cáo 01 năm t là t ơng xứng với hành vi ph m tội của bị cáo.
Xét kháng cáo của bị cáo N Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình ph t cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t nh ng không cung cấp đ ợc tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đ i diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không đ ợc chấp nhận nên bị cáo N phải chịu án phí theo luật định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn N, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 03-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, t nh Tây Ninh.
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử ph t bị cáo Lê Văn N 01 (một) năm t về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời h n chấp hành hình ph t t đ ợc tính từ ngày 31-10-2023.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 (TANDTC); - VKSND. TTN; - TAND. huyện Gò Dầu; - Công an huyện Gò Dầu; - CC THADS. huyện Gò Dầu; - Phòng KTNV. TATTN; - Bị cáo; - L u hồ sơ vụ án; - L u tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Lê Hữu Chiến |