- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Văn T ly hôn Đào Thị Lan H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 12 - 2024 “V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kia.
2. Ông Trần Văn Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 153/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024 “Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/12/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Đào Thị Lan H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Văn T trình bày: Ngày 02/02/2005, ông Phạm Văn T và bà Đào Thị Lan H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan điểm không hợp nhau, bà H không chăm lo cho gia đình, không thể chung sống với nhau được nữa. Do vậy, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà H. Về con chung: Ông T và bà H có hai con chung là Phạm Đào Nam K, sinh ngày 18/3/2006 và Phạm Đào Hoàng L, sinh ngày 25/11/2013. Ông T yêu cầu được nuôi cháu L, đối với cháu K đã thanh niên nên không yêu cầu giải quyết, ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Đào Thị Lan H mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần Tòa án triệu tập đến hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Phạm Văn T yêu cầu ly hôn với bà Đào Thị Lan H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A. Bị đơn bà Đào Thị Lan H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H.
Về hôn nhân: Ông Phạm Văn T và bà Đào Thị Lan H có đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông T và bà H đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ông T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà H. Tổ dân phố A và Ủy ban nhân dân phường T đã có xác nhận về tình trạng mâu thuẫn của ông T và bà H. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bà H không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích động viên để vợ chồng đoàn tụ, nhưng ông T vẫn cương quyết ly hôn với bà H. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà H.
Về con chung: Ông T và bà H có hai con chung là Phạm Đào Nam K, sinh ngày 18/3/2006 và Phạm Đào Hoàng L, sinh ngày 25/11/2013. Ông T có nguyện vọng nuôi cháu L, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con, đối với cháu K đã thanh niên nên không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, ông T có khả năng lao động để nuôi con. Cháu L có nguyện vọng được ông T nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao cho ông T nuôi dưỡng cháu L.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như sau: Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ. Bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T.
- Về hôn nhân: Ông Phạm Văn T được ly hôn với bà Đào Thị Lan H.
- Về nuôi con chung: Giao cho ông Phạm Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Đào Hoàng L, sinh ngày 25/11/2013, khi cháu L chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Đối với cháu Phạm Đào Nam K, sinh ngày 18/3/2006, đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết. Ông T không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Ông Phạm Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng, theo biên lai thu tiền số 0013223 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Gia Lai; ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (24/12/2024), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND thị xã A; - Chi cục THADS TX. A; - UBND P, Tây Sơn, TX. An Khê, tỉnh Gia Lai (để ghi vào sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đồng Ánh Đông |