vanban.org

Bản án 36/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Lê Thị Kim T đối với anh Nguyễn Văn M. Chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về con chung: Buộc anh Nguyễn Văn M có nghĩa vụ giao cháu Nguyễn Lê Q, sinh ngày 06-4-2018 cho chị Lê Thị Kim T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kim T ly hôn Nguyễn Văn M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Lê Thị Kim T đối với anh Nguyễn Văn M. Chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 20-5-2024.
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Văn Trường;

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Tấn Anh – Kiểm sát viên. Trong ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 169/2024/HNGĐ-ST ngày 22-4-2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim T, sinh năm 1990. Nơi ĐKHKTT: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Tạm trú: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh – Vắng mặt có đơn xin.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh– Vắng mặt có đơn xin.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Kim T trình bày:

Chị và anh M chung sống từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới và có có đăng ký kết hôn tại UBND xã P (nay là xã P), thị xã T, tỉnh Tây Ninh vào ngày 04-12-2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng mẹ chồng tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau, gây mất hạnh phúc gia đình, nên chị bỏ về nhà mẹ ruột sống từ tháng 02-2023 đó đến nay. Sau khi chị bỏ đi một thời gian thì vợ chồng có chuyện hòa giải qua điện thoại nhưng không được. Cha mẹ hai bên có hòa giải nhưng không thành. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh M.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Lê Q, sinh ngày 06-4-2018, hiện nay hai cháu đang sống cùng chồng. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày thể hiện trong hồ sơ: Thống nhất với ý kiến của chị T về ngày tháng kết hôn, quá trình ly thân, con chung, tài sản chung, nợ chung. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau dẫn đến cãi vã nhau gây mất hạnh phúc. Vợ chồng đã nhiều lần đặt vấn đề đoàn tụ nhưng không hàn gắn được. Nay tình cảm không còn nên anh đồng ý ly hôn chị T.

Về con chung: đồng ý giao con cho chị T nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

2. Việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Kim T đối với anh Nguyễn Văn M.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Q, sinh ngày 06-4-2018 cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Ghi nhận chị T không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu, không đặt ra giải quyết.

- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: nguyên đơn chị T, bị đơn anh M vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh M là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về hôn nhân: Chị T và anh M chung sống chung sống từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới và có có đăng ký kết hôn tại UBND xã P (nay là xã P), thị xã T, tỉnh Tây Ninh vào ngày 04-12-2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng cha mẹ anh M tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau gây mất hạnh phúc gia đình. Nay chị T yêu cầu được ly hôn, anh M cũng đồng ý. Từ đây cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh M, nhận thấy có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: cháu Nguyễn Lê Q, sinh ngày 06-4-2018, hiện nay đang sống cùng anh M. Chị T yêu cầu được nuôi con và anh M cũng đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng; để đảm bảo điều kiện sống, sự phát triển tự nhiên của các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao chị T được quyền trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

Về tài sản, nợ chung: Chị T, anh M không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Lê Thị Kim T đối với anh Nguyễn Văn M. Chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

2. Về con chung:

- Buộc anh Nguyễn Văn M có nghĩa vụ giao cháu Nguyễn Lê Q, sinh ngày 06-4-2018 cho chị Lê Thị Kim T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

- Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị C đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015327 ngày 22-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.(Chị T đã nộp đủ án phí).

5. Quyền kháng cáo: Chị T, anh M vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ