- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T về việc “Ly hôn”. Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Trần Hữu H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày 13-9-2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Xuân Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Liên;
2. Bà Nguyễn Thị Chinh;
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1996; trú tại: Thôn N, xã G, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (có mặt);
- Bị đơn: Anh Trần Hữu H, sinh năm 1992; trú tại: Thôn N, xã G, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày: Chị T và anh H là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 10/5/2017 tại UBND xã G, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T với anh H sống ly thân từ năm 2019 cho tới nay. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Hữu H.
Về con chung: 01 con chung, cụ thể: cháu Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 03/9/2018, con chung phát triển bình thường. Hiện tại cháu Q đang ở với anh H. Vì vậy, nguyện vọng sau khi ly hôn chị T đồng ý giao cháu Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 03/9/2018 cho anh Trần Hữu H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị Phạm Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định. Tuy nhiên, bị đơn anh Trần Hữu H vắng mặt không lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
- Kết quả xác minh tại thôn N, xã G, huyện N, tỉnh Đắk Lắk: Quá trình sinh sống tại địa phương giữa chị Phạm Thị T với anh Trần Hữu H có mâu thuẫn. Tuy nhiên, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ đâu thì chính quyền địa phương không nắm được. Hiện nay, anh H đang sinh sống tại địa phương, chị T đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh. Nay, chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh H thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến ngày xét xử vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đưa vụ án ra xét xử đúng hạn luật định, thủ tục mở phiên tòa đảm bảo. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai và ý kiến của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T với anh Trần Hữu H.
Về con chung: Giao cháu Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 03/9/2018 cho anh Trần Hữu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị Phạm Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu ly hôn nên nguyên đơn chị Phạm Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ kiện “Ly hôn” và bị đơn có nơi cư trú tại xã G, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Hữu H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T với anh H cưới nhau và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã G, huyện N, tỉnh Đắk Lắk ngày 10/5/2017. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của chị T với anh H là hợp pháp. Vì vậy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là đúng quy định của pháp luật.
Xét tình trạng hôn nhân: Quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại biên bản xác minh ngày 12/8/2024 tại chính quyền địa phương thôn N, xã G, huyện N xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T với anh H có mâu thuẫn, vợ chồng không hòa thuận. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho tới nay. Xét thấy, hôn nhân được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ công việc nhưng chị T với anh H thường xuyên mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên có cơ hội quay lại đoàn tụ với nhau nhưng không thành. Từ những căn cứ trên có thể khẳng định tình trạng hôn nhân chị T với anh H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T.
Về con chung: Có 01 con chung, cụ thể: Cháu Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 03/9/2018, con chung phát triển bình thường. Sau khi sống ly thân thì cháu Q đang ở với anh Trần Hữu H. Để đảm bảo cho việc phát triển ổn định về tâm, sinh lý của cháu Q, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Trần Hữu Minh Q cho anh Trần Hữu H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Chị Phạm Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn nên nguyên đơn chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011657 ngày 25/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T về việc “Ly hôn”. Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Trần Hữu H.
2. Về con chung: Giao cháu Cháu Trần Hữu Minh Q, sinh ngày 03/9/2018 cho anh Trần Hữu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Chị Phạm Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011657 ngày 25/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N. Chị Phạm Thị T không phải nộp thêm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã, phường và nơi họ cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng (02); - Chi cục THADS huyện Krông Năng; - Các đương sự; - UBND xã G; - . . . . . . . . . . . . . ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trƣơng Xuân Hải |