- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T "Ly hôn" Nguyễn Ngọc A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Ngọc A. Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2024/HNGĐ – ST Ngày: 29 - 3 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tô Cẩm Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Danh;
2. Ông Trần Văn Đoàn;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2024/TLST- HNGĐ, ngày 08 tháng 01 năm 2024, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 16 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1973; Cư trú tại: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An (Vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1968; Cư trú tại: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà và ông Nguyễn Ngọc A tự nguyện kết hôn vào năm 1996, đến năm 2005 mới đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 121, ngày 11/10/2005 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu. Đến năm 2003, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân là do ông A thường xuyên uống rượu, say xỉn, không làm chủ được hành động, lời nói, thường xuyên đánh, đuổi bà và các con đi nhiều lần. Vì con, bà cố gắng chung sống và khuyên ông A nhưng ông A không thay đổi. Từ giữa năm 2023, bà và các con dọn đi nơi khác sinh sống cho đến nay. Hiện tại, bà và ông A mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai nữa.
Nay, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc A.
Về con chung: Bà và ông A có 02 con chung là Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 2000 và Nguyễn Thành T2, sinh năm 2005. Hiện tại, các con đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Bà và ông A tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà và ông A không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Nguyễn Thị T xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc A đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông Nguyễn Ngọc A vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc A có nơi cư trú tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt. Xét nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản, giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Ngọc A tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Long An nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông A và bà T đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, bà T cũng đi nơi khác sinh sống và nộp đơn xin ly hôn với ông A. Quá trình giải quyết vụ án, ông A vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T. Ông A cũng không có bất kỳ hành động nào thể hiện mong muốn hàn gắn tình cảm với bà T. Qua đó, xác định ông A không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, giữa ông A và bà T không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình, hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Ngọc A.
Về con chung: Bà T xác định bà và ông A có 02 con chung, đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung; ông A vắng mặt, không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà T có ý kiến tự thỏa thuận với ông A, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết; ông A vắng mặt, không có ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà T xác định bà và ông A không có nợ chung, ông A vắng mặt, không có ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19, Khoản 1 Điều 56 của Luật nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Ngọc A. Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc A.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0010964 ngày 03/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An chuyển sang án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Ngọc A vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C; - Chi cục THA huyện C; - UBND xã nơi ĐKKH; - Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tô Cẩm Hương |