- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Ngô Phan Minh L, Đặng Văn V bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 5…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Phan Minh L, Đặng Văn V phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HSST Ngày 19/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Linh
Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn TP Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Phan Minh L; giới tính: Nam;
Sinh ngày: 16/10/2004, tại: TP. Đà Nẵng;
Nơi ĐKHKTT: Tổ 72, Phường. N, Quận. S, TP. Đà Nẵng;
Chỗ ở: K37/15 đường L, Phường. A, Quận. S, TP. Đà Nẵng;
Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: LĐPT;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 05/5/2022, bị TAND quận N xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 178 BLHS (thời hạn tính từ ngày 27/6/2022 theo Bản án số 17/2022/HSST ngày 05/5/2022).
- Ngày 02/3/2023, bị TAND quận Hải Châu xử phát 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 BLHS. Tổng hợp hình phạt với bản án số 17/2022/HSST ngày 05/5/2022 của TAND quận N và trừ thời hạn đã chấp hành, buộc bị cáo phải chấp hành 07 tháng 10 ngày tù.
Cha: Ngô Minh Đ và Mẹ: Phan Thị L.
Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N, Tp Đà Nẵng. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Đặng Văn V; giới tính: Nam;
- 1 -
Tên gọi khác: Euro
Sinh ngày: 24/6/2000, tại: TP. Đà Nẵng;
Nơi ĐKHKTT: Tổ 36, Phường. K, Quận. N, TP. Đà Nẵng;
Chỗ ở: Tổ 36, Phường. K, Quận. N, TP. Đà Nẵng;
Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: LĐPT;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Tiền án: Không;
Tiền sự:
+ Ngày 12/11/2020, bị TAND quận N áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 13/8/2021;
Nhân thân:
+ Ngày 26/01/2018, bị TAND TP. Đà Nẵng xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 2 Điều 138 BLHS. Ra tù ngày 21/01/2019.
+ Ngày 09/01/2023, bị TAND quận N áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng, kể từ ngày 13/12/2022.
Cha: Đặng Văn M và Mẹ: Lê Thị My M.
Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N, Tp Đà Nẵng. Có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn Việt: Ông Bùi Xuân N - Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước TP. Đà Nẵng. Địa chỉ: 94 đường L, phường Nại H, quận S, TP Đà Nẵng. Có mặt.
- Người bị hại: Bà Lê Thanh T. Sinh năm: 2003. Trú tại: số 129/6 đường N, phường M, quận N, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị L. Sinh năm: 1980- Trú tại: K37/15 đường L, phường A, quận S, TP. Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/11/2022, sau khi uống cà phê với nhau thì Ngô Phan Minh L rủ Đặng Văn V đi trộm cắp xe mô tô thì V đồng ý. Lâm điều khiển xe mô tô BKS 43E1-600.47 chở V qua khu vực quận N, khi đến trước nhà số 129/6 đường N, Phường. M, Quận. N, TP. Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 92E1-575.97 của chị Lê Thanh T (SN: 2003; trú: Số 129/6 đường N, Phường. M, Quận. N, TP. Đà Nẵng) đang để trước nhà, không có ai trông coi (xe không khóa) nên L dừng xe, V đứng cảnh giới còn L đến dắt trộm xe. Sau đó, cả hai đem xe trộm được bán cho 01 người (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực Phường. H, Quận. L, TP. Đà Nẵng) với giá 3.300.000 đồng. (L chia cho Vt 1.000.000 đồng còn mình thì lấy 2.300.000 đồng). Số tiền này cả hai đã tiêu xài cá nhân hết.
- 2 -
Ngày 05/12/2022, Công an Phường. H, Quận. L, TP. Đà Nẵng tiếp nhận thông tin từ quần chúng nhân dân về việc có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 92E1-575.97 để ở khu vực đất trống đường Mt (Phường. H, Quận. L, TP. Đà Nẵng) nhưng không xác định được chủ sở hữu nên Công an Phường. H tiến hành lập biên bản sự việc và tạm giữ xe trên. Đến ngày 06/12/2022, Công an Phường. H, Quận. L, TP. Đà Nẵng bàn giao xe trên lại cho Công an Phường. M, Quận. N, TP. Đà Nẵng.
Tang vật tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS: 92E1-575.97 (BL: 44-45)
Theo Kết luận định giá tài sản số 81/KLĐG ngày 29/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận N kết luận chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 92E1-575.97 trị giá 15.800.000 đồng (BL: 20).
Ngoài ra, L và V khai nhận cũng với phương thức, thủ đoạn nêu trên đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác như sau:
Vụ 1: Khoảng 23 giờ, đầu tháng 11/2022 (không nhớ chính xác ngày), sau khi chơi bida, L rủ V đi trộm cắp xe mô tô thì V đồng ý. L điều khiển xe mô tô BKS 43E1-600.47 chở V đến khu vực trước nhà số 133 đường B, Phường. M, Quận. N, TP. Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu cam – đen (không nhớ BKS) đang để trước nhà, không có ai trông coi (xe không khóa) nên dừng lại. V đứng cảnh giới còn L đến dắt trộm xe. Sau đó, L và V đem xe trộm cắp được cất giấu tại bãi đất trống gần chung cư V (Quận. S, TP. Đà Nẵng). Sáng hôm sau, L lấy xe đem bán cho 01 người (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực gần Trại tạm giam Công an TP. Đà Nẵng với giá 3.000.000 đồng (L không chia tiền cho V mà tiêu xài cá nhân hết). Tài sản hiện chưa thu hồi được.
Vụ 2: Sau khi thực hiện xong vụ thứ nhất 5 – 6 ngày, khoảng 23 giờ, L rủ V tiếp tục đi trộm cắp xe mô tô thì V đồng ý. L điều khiển xe mô tô BKS 43E1-600.47 chở V đến khu vực trước nhà số 58 đường A 2, Phường. M, Quận. N, TP. Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ – đen (không nhớ BKS) đang để ở lề đường, không có ai trông coi (xe không khóa) nên dừng lại. V đứng cảnh giới còn L đến dắt trộm xe. Sau đó, L và V đem xe trộm cắp được cất giấu tại bãi đất trống gần chung cư V (Quận. S, TP. Đà Nẵng). Sáng hôm sau, L lấy xe đem bán cho 01 người (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực cuối đường N với giá 3.300.000 đồng (Lâm không chia tiền cho V mà tiêu xài cá nhân hết). Tài sản hiện chưa thu hồi được.
Hiện nay, Cơ quan CSĐT Công an quận N vẫn chưa xác minh được bị hại của 02 xe mô tô trong hai vụ trộm cắp này. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận N sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Quá trình điều tra, Ngô Phan Minh L và Đặng Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
- 3 -
* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 26/CT-VKS-NHS ngày 05/5/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Ngô Phan Minh L, Đặng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Phan Minh L từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/2/2023. Căn cứ điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt 07 tháng 10 ngày tù theo Bản án số 22/2023/HSST ngày 02/3/2023 của Toà án nhân dân quận H, Tp Đà Nẵng cho bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn V từ 12 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023.
- Về phần xử lý tang vật: Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS: 92E1-575.97, Cơ quan CSĐT – Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã trả lại cho chị Lê Thanh T là có căn cứ.
- Về dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, gia đình Ngô Phan Minh L và Đặng Văn V đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho chị Lê Thanh T. Chị T đã nhận tiền và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Ngô Phan Minh L và Đặng Văn V.
* Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn V trình bày lời bào chữa: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo Việt được hưởng mức thấp để bị cáo sớm tái hoà nhập cộng đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.
Ý kiến của người bị hại về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình giải quyết, nguời bị hại – chị Lê Thanh T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- 4 -
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, các bị cáo Ngô Phan Minh L, Đặng Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo, xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/11/2022, tại trước nhà số 129/6 đường N, Phường. M, Quận. N, TP. Đà Nẵng, Ngô Phan Minh L và Đặng Văn V có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS: 92E1-575.97 trị giá 15.800.000 đồng của chị Lê Thanh T (SN: 2003; trú: Số 129/6 đường Ngũ H, Phường. M, Quận. N, TP. Đà Nẵng).
Hành vi trên đây của các bị cáo Ngô Phan Minh L, Đặng Văn V đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 điều 173 của BLHS. Do đó Bản cáo trạng số 26/CT-VKS- NHS ngày 05/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Do ý thức coi thường pháp luật, lười lao động nhưng lại muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân một cách dễ dàng và nhanh nhất nên các bị cáo đã bất chấp tất cả để thực hiện hành vi phạm tội của mình. Trong vụ án này, bị cáo L có vai trò chủ mưu, rủ rê V đi trộm cắp tài sản, L là người trực tiếp thực hiện việc lấy tài sản và tìm kiếm chỗ tiêu thụ tài sản; V có vai trò góp sức tích cực, đứng cảnh giới và cùng nhau tẩu thoát. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất liều lĩnh, táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, nó không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân đây là một trong những khách thể quan trọng luôn được pháp luật bảo vệ mà còn gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất ổn định trật tự trị an xã hội tại địa phương.
Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo có nhân thân xấu. Đối với bị cáo L: ngày 05/5/2022, bị TAND quận N xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 178 BLHS (thời hạn tính từ ngày 27/6/2022 theo Bản án số 17/2022/HSST ngày 05/5/2022); ngày 02/3/2023, bị TAND quận H xử phát 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 BLHS; tổng hợp hình phạt với bản án số 17/2022/HSST ngày 05/5/2022 của TAND quận N và trừ thời hạn đã chấp hành, buộc bị cáo phải chấp hành 07 tháng 10 ngày tù (các hành vi phạm tội trên, bị cáo L thực hiện khi chưa đủ 18 tuổi nên trong bản án này không xem xét là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm). Đối với bị cáo V: Ngày 26/01/2018, bị TAND TP. Đà Nẵng xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 2 Điều 138 BLHS (ra tù ngày 21/01/2019); ngày 12/11/2020, bị TAND quận Ngũ Hành S áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 13/8/2021; Ngày 09/01/2023, bị TAND quận Ngũ Hành Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng, kể từ ngày 13/12/2022. Ngoài ra, các bị cáo đã cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp khác, hiện Cơ quan CSĐT Công an quận N vẫn chưa xác minh được bị hại trong hai vụ trộm cắp này.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo; gia đình các bị cáo đã bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn xin
- 5 - giảm nhẹ hình phạt, gia đình của Đặng Văn V thuộc diện hộ nghèo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường khắc phục hậu quả, không có yêu cầu gì về dân sự nên không đề cập giải quyết.
Đối với những người mua tài sản là xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu cam – đen (không rõ BKS) và xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ – đen (không rõ BKS) mà Ngô Phan Minh L và Đặng Văn V trộm cắp hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan CSĐT – Công an quận N sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Đối với chị Phan Thị L (SN: 1980; trú: K37/15 đường L, Phường. A, Quận. S, TP. Đà Nẵng; là mẹ ruột của Ngô Phan Minh L) – là chủ sở hữu xe mô tô BKS 43E1-600.47, không biết việc L sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT – Công an quận N, TP. Đà Nẵng không xử lý là có căn cứ.
Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, điều khoản luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với các bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử.
Án phí HSST: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Phan Minh L, Đặng Văn V phạm tội "Trộm cắp tài sản".
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Phan Minh L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Căn cứ Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt 07 (Bảy) tháng 10 (Mười) ngày tù theo Bản án số 22/2023/HSST ngày 02/3/2023 của Toà án nhân dân quận H, Tp Đà Nẵng, buộc bị cáo Ngô Phan Minh L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng 10 (Mười) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023.
2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn V 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam ngày 13/6/2023.
- 6 -
3. Án phí HSST: Các bị cáo Ngô Phan Minh L, Đặng Văn V mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng; - Viện kiểm sát nhân dân quận N; - Công an quận Ngũ H; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ TRÂM - 7 - |