- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức M Đ295BLHS - phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người (điều 295 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 36/2023/HSST Ngày: 29 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Xuân Đính
2. Ông Nguyễn Đức Hoài
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thanh Phương – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2023 tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXX-HS ngày 17/3/2023 đối với bị cáo:
LÊ ĐỨC M, sinh năm 1974 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Mua bán phế liệu; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Đức H (đã chết) và bà Dương Thị B (đã chết); Vợ: Bùi Thị H2; Con có 01 người sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không. Ngày 14/11/2022, M bị Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện hợp pháp của bị hại Võ Tấn E: Chị Thạch Thị H1, sinh năm 1985; HKTT: ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở: Tổ 8, ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức M làm nghề mua bán phế liệu, không đăng ký kinh doanh. Ngày 25/7/2022, M thu mua nhà xưởng, bằng sắt tại ấp 3A, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, (nay là khu phố 3A, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước của bà Trương Thị Thuận, với giá 30.000.000đ. M tự thuê nhân công tự tháo dỡ nhà xưởng.
Khoảng 07 giờ ngày 29/7/2022, Lê Đức M thuê anh Võ Tấn E, Thạch N cùng tiến hành tháo dỡ nhà xưởng đã mua của bà T1. M biết rõ anh Tấn E và anh Thạch N không có chuyên môn, chứng chỉ phù hợp, không được tập huấn các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc nhưng vẫn cung cấp giàn giáo, thanh sắt vuông rồi cùng anh Tấn E, anh N lắp giàn giáo cao cách nền nhà xưởng 6,6m làm chỗ đứng và sử dụng thanh sắt vuông kích thước (4x8)cm, dài 4,8m cố định vào bờ tường xây để dỡ nhà xưởng theo sự chỉ đạo của M. Trong quá trình tháo dỡ nhà xưởng, M không trang bị các thiết bị đảm bảo an toàn lao động cho anh Tấn E và anh N. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đang tháo dỡ nhà xưởng thì thanh sắt vuông gãy, anh Tấn E và anh Thạch N bị té ngã từ độ cao 6.6m xuống nền của nhà xưởng. Anh Tấn E và anh Thạch N được đưa đi cấp cứu. Đến ngày 30/7/2022, anh Võ Tấn E chết. Anh Thạch N bị thương tích nhẹ.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 780/GĐPY ngày 06/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Võ Tấn E là do đa chấn thương (gãy đốt sống cổ, dập phổi, gan).
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 29 tháng 7 năm 2022 xác định dấu vết cơ bản dẫn đến vụ tai nạn lao động như sau:
Hiện trường vụ tai nạn lao động là khu vực nhà xưởng của công ty Thuận Vát, địa chỉ khu phố 3A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước,
Vị trí 01: Gồm nhiều khung kim loại xếp chồng lên nhau và cố định, có chiều cao 6.6m. Tại vị trí cách nền 3m, được kê 03 thanh kim loại, có cùng kích thước (4.8x0.08x0.04)m. Một đầu của 03 thanh kim loại được kê vào giàn giáo số 1, hai thanh kim loại một đầu còn lại đầu hạ xuống mặt đất, một thanh kim loại còn lại đầu kê vào tường hướng đông.
Vị trí số 2: Cách vị trí số 1 về hướng đông bắc 4.67 và nằm sát tường phía bắc là vị trí giàn giáo số 2, giàn giáo này cao 6m, tại vị trí phía trên giàn giáo này ghi nhận 01 thanh kim loại dài 4.9m, rộng 8cm, dày 4cm
Vị trí số 3: Tại vị trí góc tường hướng đông nam của nhà xưởng co 02 khung kim loại, dạng khung sắt được hàn vào nhau tạo thành khung, có kích thước lần lượt là (3.26x2.5)m và (1.2x2.7)m, bị rỉ sét.
Về vật chứng:
Giàn giáo cao 6.6m và 01 thanh sắt vuông, kích thước (4x8) cm, dài 4.8m của Lê Đức M. Sau khi khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra đã bàn giao cho M.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau tai nạn, Lê Đức M đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại Võ Tấn E là chị Chị Thạch Thị H1 số tiền bồi thường 67.000.000đồng.
Tại Bản cáo trạng số 40/CTr-VKS-CT ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Lê Đức M về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Đức M, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, các điều 50, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Đức M mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố, không tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất ăn năn hối hận. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của hại tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ, khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 07 giờ ngày 29/7/2022, Lê Đức M thuê anh Võ Tấn E cùng anh Thạch N tháo dỡ nhà xưởng đã mua của bà T1 tại khu phố 3A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Lê Đức M biết việc lao động trên cao (6.6m) là công việc có yếu tố nguy hiểm, được pháp luật quy định nghiêm ngặt trong quá trình thi công tháo dỡ nhưng vẫn thuê anh Võ Tấn E là người lao động không có chuyên môn, chứng chỉ phù hợp; không được tập huấn các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc; không được trang bị các thiết bị đảm bảo an toàn lao động. Hậu quả, trong khi trèo, tháo dỡ, anh Tấn E té xuống nền nhà xưởng bị thương nặng và chết. Hành vi của M đã phạm khoản 1, 6 Điều 12 và khoản 3 Điều 16 Luật an toàn, vệ sinh lao động, gây hậu quả chết người. Hành vi của Lê Đức M đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 40/CTr-VKS-CT ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Lê Đức M về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Điều luật quy định: “1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) …
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định về an toàn trong lao động, là khách thể được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nhưng hậu quả làm chết một người là nghiêm trọng nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân chưa tiền án, tiền sự; sau khi xảy ra tai nạn, đã tích cực đưa nạn nhân đi cứu chữa; đã bồi thường, khắc phục hậu quả; được đại diện hợp pháp của người bị hại bãi nại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Từ những nhận định trên cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm, do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không cần phải cách ly ra khỏi xã hội cũng đủ để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 295 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Bị cáo làm nghề thu mua ve chai dạo, thu nhập không ổn định do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, Lê Đức M đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại Võ Tấn E là chị Thạch Thị H1 số tiền 67.000.000đồng. Chị Hường không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng: Giàn giáo cao 6.6m và 01 thanh sắt vuông, kích thước (4x8)cm, dài 4.8m của Lê Đức M. Sau khi khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra đã bàn giao cho M.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Đức M 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/3/2023.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Đức M phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - VKSND thị xã Chơn Thành; - CCTHADS thị xã Chơn Thành; - CA thị xã Chơn Thành; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Loan |