- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm h, n, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HS-ST Ngày: 17 - 02- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Âu Văn Hồ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký Toà án: ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2022/HSST ngày 09/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HS ngày 02/02/2023 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Xuân T; Tên gọi khác: không.
Sinh ngày 25/10/1996, tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang; Giới tính: Nữ.
Nơi thường trú: Thôn Tham Kha, xã Trung Hòa, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi tạm trú và chỗ ở trước khi phạm tội: Tổ dân phố An B, phường Đồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo.
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12.
Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không
Họ tên bố: Nguyễn Tân C, sinh năm 1967; Mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1972, trú tại: Thôn Tham Kha, xã Trung Hòa, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ 2. Hiện đang là phụ nữ có thai với anh Sim Văn P chưa đăng ký kết hôn.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Đồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
* Người bị hại:
Công ty TNHH DASIN,
Địa chỉ: Tổ dân phố Yên Mễ, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Huy B, sinh năm 1981
Chức vụ: Trưởng phòng hành chính – Nhân sự Địa chỉ: xóm Chùa, thôn Đìa, xã Nam Hồng, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân T là công nhân của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Kỹ thuật điện tử Peilan Việt Nam (viết tắt là Công ty Peilan). Khoảng tháng 10/2022, T và chị Hoàng Thị H, cùng làm tại Công ty Peilan đến kiểm tra hàng tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn DAESIN, thuộc tổ dân phố Yên Mễ, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (ca của chị H nối tiếp ca làm việc của T). Chị H cho T biết trong phòng IQC của Công ty DAESIN có 01 thùng cát tông bên trong có chứa màn hình điện thoại Samsung. Chị H và T không biết nguồn gốc chiếc thùng là của ai, có từ lúc nào. Chị H và T thống nhất sau khi kiểm tra xong và trả màn hình lại kho công ty, nếu kho báo thiếu màn hình thì sẽ lấy màn hình ở thùng cát tông này bù vào số hàng bị thiếu. Bản thân T đã cất vào trong thùng cát tông này 04 khay nhựa đựng 24 chiếc màn hình của điện thoại Sam sung giao thừa trong ca làm việc của mình trước đó. Đến ngày 20/10/2022, T nảy sinh ý định trộm cắp màn hình từ thùng cát tông này và đã thực hiện lấy 12 chiếc màn hình điện thoại Sam sung A136 mang ra ngoài để tiêu thụ. T lấy 12 chiếc màn hình cho xuống dưới gầm bàn rồi lấy giấy từ tệp đựng tài liệu của mình đã đặt sẵn ở đấy cuốn số màn hình lại rồi cho vào giữa túi đựng hồ sơ sau đó tiếp tục làm việc như bình thường. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi làm việc xong, T cầm tệp tài liệu trong có chứa 12 chiếc màn hình trộm cắp được đi qua cửa của công ty để ra về thì bị lực lượng bảo vệ công ty phát hiện trình báo Công an phường Hồng Tiến đến lập biên bản sự việc, tạm giữ niêm phong số vật chứng bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên để xử lý theo quy định. Tại bản kết luận định giá tài sản số 88 ngày 31/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phổ Yên kết luận: Giá trị 12 chiếc màn hình điện thoại Sam sung A136, mã sản phẩm GH96-14943A, màn hình chưa qua sử dụng, chưa xuất xưởng theo yêu cầu định giá có giá trị là 3.477.900đ (Ba triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn chín trăm đồng) .
Vật chứng của vụ án: 12 chiếc màn hình điện thoại Sam sung A136, mã sản phẩm GH96-14943A, màn hình chưa qua sử dụng; 49 màn hình điện thoại (trong đó có 37 màn hình điện thoại Sam sung A136 và 12 màn hình điện thoại Sam sung A236) chưa qua sử dụng được đặt trong 10 khay nhựa tạm giữ trong quá trình khám nghiệm đã trả cho chủ sở hữu là Công ty Trách nhiệm hữu hạn DAESIN quản lý sử dụng. 01 túi niêm phong ký hiệu PS1 2105327 bên trong đựng 01 túi nhựa trong suốt đựng 78 tờ tài liệu giấy khổ A4 được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Công ty Trách nhiệm hữu hạn DAESIN là anh Nguyễn Huy Bình đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu đề nghị gì .
Do có hành vi nêu trên nên tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSPY ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSPY ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
2.2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) túi niêm phong mã số PS1 2105327 ghi bên trong đựng 01 túi
nhựa trong suốt đựng 78 tờ tài liệu A4.
4. Về trách nhiệm dân sự: Công ty DAESIN đã nhận lại toàn bộ tài sản do Hai trộm cắp và không có đề nghị gì thêm.
5. Về án phí: Miễn chịu án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội sớm trở về với gia đình và cộng đồng, sửa chữa lỗi lầm, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như: biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, lời khai của người bị hại, kết luận định giá tài sản. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/10/2022, tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn DAESIN, thuộc tổ dân phố Yên Mễ, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Xuân T đã có hành vi trộm cắp tài sản là 12 chiếc màn hình điện thoại Sam sung A136, mã sản phẩm GH96-14943A. Tại bản kết luận định giá tài sản số 88 ngày 31/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phổ Yên kết luận: Giá trị 12 chiếc màn hình điện thoại Sam sung A136, mã sản phẩm GH96-14943A, màn hình chưa qua sử dụng, chưa xuất xưởng theo yêu cầu định giá có giá trị là 3.477.900đ (Ba triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn chín trăm đồng) .
Hành vi, ý thức của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSPY ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội danh và điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Cụ thể nội dung Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
Xét các yếu tố nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật do đó, Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân tốt.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ cho bị cáo được hưởng 4 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các điểm h, i, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là: “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội là phụ nữ có thai và Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tài sản cho cá nhân, thuộc loại tội ít nghiêm trọng, xâm hại quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bị cáo lại đang mang thai, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nên xét thấy không cần áp dụng hình phạt tù gam mà cho các bị cáo được hưởng án treo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, thể hiện sự khoan hồng của Đảng và nhà nước ta đối với bị cáo. Việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, nhằm giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.
Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Công ty DAESIN đã nhận lại toàn bộ tài sản do Hai trộm cắp và không có đề nghị gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) túi niêm phong mã số PS1 2105327 ghi bên trong đựng 01 túi nhựa trong suốt đựng 78 tờ tài liệu A4.
Về án phí: Bị cáo là phụ nữ có thai, gia đình thuộc hộ nghèo, nên miễn án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này, chị Hoàng Thị H là người đến kiểm tra hàng tại Công ty DAESIN cùng với Nguyễn Xuân T, nhưng chị H không bàn bạc và không biết T có hành vi trộm cắp màn hình điện thoại của Công ty DAESIN nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị H là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm h, n, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho UBND phường Đồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”
2.2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Xuân T
3. Về trách nhiệm dân sự: Công ty DAESIN đã nhận lại toàn bộ tài sản do Hai trộm cắp và không có đề nghị gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: -01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu BH ghi chiếc áo bảo hộ lao động, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên .
Hiện được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (Theo biên bản giao nhận ngày 03/01/2023)
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Xuân T.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN
Âu Văn Hồ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh. Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Phổ Yên; - Công an TP. Phổ Yên; - THADS TP. Phổ Yên; - Cơ quan THAHS CAPY; - Bị cáo; bị hại; - Đương sự trong vụ án; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Âu Văn Hồ |