vanban.org

Bản án 36/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

1. Xử lý vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/01/2023 của Kho 29 - Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng, như sau: Chuyển giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hải Phòng xử lý theo thảm quyền 02 đầu đạn bị biến dạng. 2. Xử lý các vật chứng theo Biên bản giao nhận v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V phạm tội Gây rối trật tự công cộng và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày 14 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Sơn

Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Bà Lương Thị Kim Dung

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Đức – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Thanh Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/HSST-QĐ ngày 02 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1992, tại Hải Phòng; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: tổ 11 khu 1, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; địa chỉ chỗ ở: Khu 5,0 ha, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị Kim P (tên gọi khác Nguyễn Thị Kim Ph); có vợ là Nguyễn Thị Hồng A và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Án số 52/2009/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2009, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 10 năm tù về tội Giết người (ngày phạm tội 16 tháng 3 năm 2008; thời điểm phạm tội: 15 năm 05 tháng 16 ngày tuổi; ngày chấp hành xong hình phạt tù 27 tháng 4 năm 2017; đã thi hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm và bồi thường thiệt hại) - không coi là có án tích; bị tạm giữ ngày 01 tháng 8 năm 2022, chuyển tạm giam ngày 04 tháng 8 năm 2022; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Minh T, sinh năm 1978; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: số 42C/26 TDP C6, phường Cát Bi, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; địa chỉ chỗ ở: số 66C Đồng Xá 2, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị Kim O; vắng mặt.

- Ngô Mạnh D; vắng mặt.

- Anh Phạm Văn C; vắng mặt.

- Anh Lê Văn M; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 15 phút ngày 19/6/2022, anh Đỗ Minh T, sinh năm 1978; đăng ký hộ khẩu thường trú: số 42C/26 TDP C6, phường Cát Bi, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: số 66C Đồng Xá 2, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng đến Công an phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng trình báo về việc: Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, anh T đang ngồi uống nước cùng vợ là chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1969 và vợ chồng anh Phạm Văn C, sinh năm 1980 tại nhà anh Cường ở số 68 Đồng Xá 2 thì Nguyễn Văn V cùng một nhóm người xông vào chém anh T, trong đó V dùng 01 khẩu súng bắn anh T 04 phát.

Sau khi nhận được trình báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ được 02 đầu đạn bị móp méo, biến dạng và phát hiện trên mặt bồn cây tại góc vỉa hè trước cửa nhà số 68 Đồng Xá 2 có 01 vết xước, trượt, bong tróc đá kích thước 2x3,5cm.

Tại bản kết luận giám định số 4478/KL-KTHS ngày 29/7/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: 02 đầu đạn thu giữ là đầu đạn của loại đạn cỡ 9x29cm, loại đạn này thuộc vũ khí quân dụng, sử dụng bắn được cho súng rulo cỡ nòng 9mm thuộc vũ khí quân dụng. 02 đầu đạn do cùng một khẩu súng bắn ra.

Ngày 20/6/2022, anh T giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An 01 đầu thu camera an ninh lắp đặt tại nhà của anh T có ghi lại hình ảnh vụ việc vào thời điểm xảy ra.

Tại bản kết luận giám định bổ sung số 628/KL-KTHS(KTS) ngày 25/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “- Thời điểm 19:14:34 đối tượng có hành động đưa tay phải lên, cùng lúc đó có một vệt sáng phát ra theo chiều hướng từ phải qua trái, từ trên xuống dưới. Sau đó đối tượng đi về phía bên phải góc quay camera. - Thời điểm 19:14:44, vị trí đối tượng đứng khuất hàng cây phát hiện một vệt sáng từ phải qua trái. - Thời gian hiển thị trên tập tin video chậm hơn so với thời gian thực tế là 01 giờ 22 phút.”

Tại bản kết luận giám định số 7779/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Không đủ cơ sở kết luận dấu vết xước, trượt, bong tróc đá phát hiện tại hiện trường do đạn bắn tạo ra.

Ngày 01/8/2022, Nguyễn Văn V đến Công an quận Hải An đầu thú. Xét hỏi, Nguyễn Văn V khai: sáng ngày 19/6/2022 V nhặt được 01 khẩu súng ngắn dạng ổ xoay, báng súng bằng kim loại màu đen, dài khoảng 20cm tại lòng đường ở khu vực đường Bùi Viện, quận Hải An, thành phố Hải Phòng (không nhớ vị trí cụ thể). V mang về nhà cất giấu và mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có lắp sẵn khoảng 3 - 4 viên đạn màu vàng bằng đồng. Do tìm hiểu qua mạng xã hội nên V biết khẩu súng này là vũ khí quân dụng. Khoảng 16 giờ cùng ngày khi V đang ngồi uống nước tại đường Bùi Viện thì anh Đỗ Minh T cùng 5-6 người khác đến và những người này đuổi V không rõ vì lý do gì nên V chạy về nhà. Khoảng 19 giờ ngày 19/6/2022, Hiệp “dê”, Hiệp “chớp”, Duy “Bình” (là những bạn quen ngoài xã hội của V, không rõ lý lịch, địa chỉ) cùng 5 - 6 người là bạn của Hiệp “dê” đến nhà V chơi. Sau đó khoảng 30 phút thì anh T cùng 5 - 6 người khác đến nhà V và hai bên có xảy ra cãi chửi nhau rồi anh T ra về. Đến 20 giờ 30 phút ngày 19/6/2022, V rủ Hiệp “dê”, Hiệp “chớp”, Duy “Bình” và những người đang ở nhà V đi sang nhà anh T để nói chuyện vì sao lại xảy ra mâu thuẫn với V. Khi đi V có mang theo khẩu súng nhặt được để phòng thân vì sợ anh T đánh. Đến nơi V thấy anh T đang ngồi uống nước tại nhà anh Cường nên đi đến chỗ của anh T. Khi đó anh T đứng trong cổng, cách V khoảng 2-3 mét và hai bên tiếp tục chửi nhau. Do nóng giận nên V lấy khẩu súng từ trong túi quần ra chĩa súng về phía trước, hơi chúc xuống đất, không nhắm vào ai và bắn 01 phát để thị uy. Sau đó V đi lùi lại giữa đường, cách anh T khoảng 5-6 mét giơ súng hướng lên trên khoảng góc 120 độ so với thân người, hơi chếch sang trái và bắn 01 phát nữa để thị uy rồi cùng cả nhóm bỏ đi. Trên đường tẩu thoát V đã vứt khẩu súng đi nhưng không nhớ địa điểm. V không nói cho những người đi cùng biết việc mang theo khẩu súng, không nhìn thấy những người này mang theo đồ vật gì và có hành động gì khi xảy ra sự việc.

Anh Đỗ Minh T khai: chiều ngày 19/6/2022, do Nguyễn Văn V cùng một số người khác dựng tôn, bịt lối đi trước cửa nhà bà Vũ Thị Nhài, sinh năm 1960, nơi cư trú: số 60 khu tập thể quân đội sân bay Cát Bi, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng là mẹ nuôi của T nên giữa T và V xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Đến 18 giờ cùng ngày, V gọi điện chửi và nói trong ngày hôm nay sẽ giết anh T. Sau đó vợ chồng anh T sang nhà V nói chuyện thì V định đánh anh T nên anh T đi về nhà. Khoảng hơn 20 giờ, khi anh T cùng vợ là chị O đang ngồi uống nước ở sân nhà anh C (là hàng xóm, đối diện nhà của anh T) thì thấy có khoảng 5 - 6 xe máy, mỗi xe chở từ 2-3 người nam giới trên xe và 01 xe ô tô 4 chỗ màu đen đi qua cửa nhà anh C. Ngay sau đó có 03 nam giới đeo khẩu trang cầm kiếm, mã tấu và nói “T ơi bố chém chết mày”. V đi sau 03 người này và nói “T ơi hôm nay tao giết mày”. V đi đến gần cổng nhà anh C, cách anh T khoảng 03 mét dùng tay phải rút trong cạp quần ra 01 khẩu súng dạng côn xoay màu đen chĩa vào phía vợ chồng anh T. Anh T nghe được 02 tiếng súng nổ liên tiếp và kèm theo 01 tiếng “Keng”. Sau đó V lùi lại ra ngoài, anh T định lao ra thì chị O giữ lại nên anh T quay người lại thì nghe thấy thêm 01 tiếng súng nổ. Anh T quay lại thì nhìn thấy V đang đứng giữa đường, tay phải vẫn cầm khẩu súng, nòng súng hướng xuôi theo chiều chiếc xe ô tô của anh C đang đỗ rồi tiếp tục giương tay cao ngang mặt nổ phát súng thứ tư. Sau đó V đút súng vào cạp quần và cùng đồng bọn đi khỏi hiện trường. Sau khi sự việc xảy ra không có ai bị thương tích hay hư hỏng tài sản gì. Trong đơn trình báo, anh T viết Nguyễn Văn V cùng một nhóm người xông vào chém anh T là không chính xác.

Chị Nguyễn Thị Kim O (là vợ của anh T) khai: Chị O nhìn thấy V rút 01 vật hình dạng khẩu súng từ trong người ra hướng về phía vợ chồng chị và nghe thấy 02 tiếng nổ liên tiếp, sau đó khoảng 01 giây có thêm 01 tiếng nổ nữa.

Anh Ngô Mạnh D, sinh năm 1988; đăng ký hộ khẩu thường trú: số 55A Lương Khánh Thiện, phường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; nơi ở: số 15/132 đường vòng Vạn Mỹ, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng khai: Khoảng 20h30’ ngày 19/6/2022, khi anh D đang ngồi chơi trong nhà anh Đỗ Minh T thì thấy V cùng 01 nhóm khoảng 10 người cầm theo dao, kiếm đứng trước cửa nhà số 68 Đồng Xá 2, anh có nghe thấy V nói giết anh T. Thấy vậy, D đi đến sát hàng rào gần cổng phụ nhà anh Cường, D thấy V tay cầm 01 khẩu súng hướng xuống đất, D nghe thấy 02 tiếng súng nổ liên tiếp và 01 tiếng súng nổ sau đó khoảng 01 giây và kèm theo tiếng “keng”. D quay lại nhìn thì thấy V đang cầm khẩu súng hướng về phía vợ chồng anh T. D định tiến về phía V thì V hướng súng về phía D bắn thêm 01 phát nhưng không trúng người D rồi cùng cả nhóm bỏ đi.

Anh Phạm Văn C, sinh năm 1980; đăng ký hộ khẩu thường trú: số 28/2 TDP C2, phường Cát Bi, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; nơi ở: số 68 Đồng Xá 2, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng khai: tối ngày 19/6/2022 vợ chồng anh T chị O có sang nhà anh C ngồi uống nước tại sân. Sau đó có một nhóm thanh niên đi nhiều xe máy và 01 ô tô đến nhà anh C, trong đó có 3-4 người cầm theo vật đoán là dao còn V đi đến sát cổng nhà anh Cường (cách tâm cổng khoảng 01 mét, cách V khoảng 02 mét) và cãi nhau với anh T. Anh Cường đi ra can ngăn và vừa quay người đi vào trong nhà thì nghe thấy 01 tiếng nổ ngay sau lưng. Lúc này anh D chạy ra giữa lòng đường cách V khoảng 07 - 08 mét thì V giơ tay lên trời, trên tay cầm 01 vật (đoán là súng) và phát ra 01 tiếng nổ rồi cùng cả nhóm bỏ đi.

Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1968, nơi cư trú: số 130C Đồng Xá 2 và anh Lê Văn Mạnh, sinh năm 1988, nơi cư trú: số 132 Đồng Xá 2, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng khai: tối ngày 19/6/2022 có thấy một nhóm người đi đến khu vực đường trước cửa nhà số 68 Đồng Xá 2 và nghe thấy khoảng 3-4 tiếng nổ. Sau khi sự việc xảy ra làm cho mọi người trong khu dân cư hoang mang, lo sợ.

Bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS-P1 ngày 04 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn V phạm tội “Gây rối trật tự công công” theo điểm b khoản 2 Điều 318 và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

- Ý kiến của Kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Gây rối trật tự công công” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 304; khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 03 năm đến 4 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 06 năm đến 07 năm 06 tháng tù; biện pháp tư pháp: Không có; xử lý vật chứng: Theo quy định; bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo: Khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng. Bị cáo đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên đã luận tội đối với bị cáo nhưng đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có điều kiện cải tạo trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bởi lời khai của người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản xác định hiện trường; các bản kết luận giám định; vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa. Vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn V đã có hành vi cất giấu trái phép 01 khẩu súng là vũ khí quân dụng tại chỗ ở. Sau đó đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19 tháng 6 năm 2022 bị cáo đã có hành vi cùng một nhóm người (không rõ căn cước, lý lịch) đi đến khu vực trước cửa nhà số 68 Đồng Xá 2, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng và tại đường giao thông và sử dụng khẩu súng do bị cáo đã tàng trữ từ trước bắn 02 phát với mục đích để thị uy đối với anh Đỗ Minh T, gây hoang mang trong nhân dân ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu vực. Với hành vi nêu trên, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo dùng súng bắn để thị uy, làm hoang mang trong nhân dân, mất an ninh, trật tự chung nên với tội danh “Gây rối trật tự công cộng” bị cáo phải bị truy tố và xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt “Dùng vũ khí”.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, đề nghị kết tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tại phiên toà đối với bị cáo là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và việc xử lý: Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi và diễn biến quá trình phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an để đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo thể hiện sự bất chấp, liều lĩnh, coi thường pháp luật. Mặc dù, bị cáo không có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân đã 01 lần bị Tòa án xét xử và áp dụng hình phạt tù và đã phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ không coi là tiền án do thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trước đây bị cáo mới 15 tuổi, nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng. Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp: Không có.

Về xử lý vật chứng: 02 đầu đạn chuyển giao cho Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng xử lý theo thẩm quyền. Tịch thu tiêu hủy 01 viên đá màu xanh. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án 01 đầu thu nhãn hiệu HK Vision.

Trong vụ án này: Đối với những người đi cùng V có tên Hiệp “Dê”, Hiệp “Chớp”, Duy “Bình” và các đối tượng đi cùng V, do hiện không xác định được căn cước, lý lịch nên ngày 22/12/2022 Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hải Phòng ra Quyết định tách, rút hồ sơ, tài liệu số 01/QĐ-ANĐT để điều tra làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; 03 (ba) năm (06) sáu tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là (07) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 01 tháng 8 năm 2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

2.1. Xử lý vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/01/2023 của Kho 29 - Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng, như sau: Chuyển giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hải Phòng xử lý theo thảm quyền 02 đầu đạn bị biến dạng.

2.2. Xử lý các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, như sau:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn Tuyền, Bùi Văn Hiển và đóng dấu đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ công an bên trong có 01 viên đá màu xanh kích thước 10x20,5x1,3cm.

Trả lại cho anh Đỗ Minh T, sinh năm 1978; đăng ký hộ khẩu thường trú: số 42C/26 TDP C6, phường Cát Bi, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: số 66C Đồng Xá 2, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng 01 đầu thu nhãn hiệu HK Vision có số serial: D48745492 bên trong có gắn 01 ổ cứng nhãn hiệu Toshiba 1TB có số S/N: Y9D8ZMDES F3G.

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 61; Điều 65; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ