- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Xuân Thành - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo §inh Xu©n Thµnh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HS-ST Ngày: 7-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông §Æng ViÕt Hùng và bµ NguyÔn ThÞ V©n
- Thư ký phiên tòa: Bà NguyÔn ThÞ Duyªn – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:
¤ng NguyÔn TuÊn Anh -Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại Điểm cầu trung tâm tại phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại phòng xét xử Trại tạm giam số 01, Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
§inh Xu©n T; sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT: Thôn V, x· V1, huyÖn M, thµnh phè Hµ Néi; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông §inh Xu©n N, sinh năm 1952 và bà Vò ThÞ H, sinh năm 1955; Anh chÞ em ruét: Cã 02 ng êi bÞ c¸o lµ thø 2; Vợ lµ: NguyÔn ThÞ T1 sinh n¨m 1985, cã 02 con (lín sinh n¨m 2012, nhá sinh n¨m 2021). Tiền án; TiÒn sù: Kh«ng.
* Nhân thân:
- Ngày 16/4/2006 bị Toà án nhân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 24 tháng tù về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
- Ngày 08/3/2013 bị Toà án nhân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 28/2/2017 bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 48 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.
Bị c¸o bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2023 đến nay t¹i Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. Cã mÆt t¹i phiªn tßa.
*Người bị hại: Anh Ph¹m V¨n Q, sinh năm 1969 (V¾ng mÆt).
§Þa chØ: Th«n P, x· P, huyÖn Ư, TP. Hµ Néi.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh NguyÔn VÜnh C, sinh năm 1993 (V¾ng mặt).
Địa chỉ: th«n X, x· Q, huyÖn Ư, TP Hµ Néi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 12/3/2023, do không có tiền tiêu sài nên Đinh Xuân T, sinh năm 1986, HKTT tại thôn Vạn Phúc, xã Vạn Kim, huyện Mỹ Đức đi sang khu vực xã Phù Lưu, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội xem có ai sơ hở tài sản gì thì lấy trộm. Thành đi bộ từ nhà đến đoạn đường bê tông của cánh đồng Nam Đức Chầu, thuộc thôn Phù Lưu Hạ, xã Phù Lưu thì phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 34N8 – 4907 của ông Phạm Văn Quý, sinh năm 1969, trú tại thôn Phù Lưu Hạ, xã Phù Lưu, huyện Ứng Hoà, xe vẫn cắm chìa khoá trong ổ, phía sau xe máy có 02 sọt sắt 02 bên mỗi sọt có kích thước (43x61x40)cm và 01 giá bằng sắt kích thước (83x47x121)cm đang dựng trên đường bê tông. Quan sát xung quanh không có người trông coi, ông Q và vợ đứng cách vị trí xe máy khoảng 40m đang quay lưng lại phía chiếc xe máy. Thành tiến đến mở khoá xe rồi điều khiển xe đi về hướng Quốc lộ 21B thì bị ông Q phát hiện đuổi theo nhưng không đuổi kịp. Thành điều khiển xe đi lên khu vục xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hoà rồi vào cửa hàng thu mua phế liệu của anh Nguyễn Vĩnh C, sinh năm 1993, tại thôn Xà Cầu, xã Quảng Phú Cầu để bán chiếc xe. Tại đây, anh C hỏi Thành “nguồn gốc xe thế nào”, Thành trả lời “xe của tôi bị mất giấy tờ”, anh C đồng ý mua lại chiếc xe và toàn bộ giá, sọt sắt gắn ở xe với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Khi mở cốp xe kiểm tra, Thành phát hiện ra 01 chiếc điện thoại Samsung J8 màu vàng cát trong cốp xe, Thành cất vào túi quần rồi ra ngoài đường bắt xe ôm đi về nhà. Khi đi đến khu vực ngã tư Trung tâm thương mại, thị trấn Vân Đình, Thành tháo chiếc sim số 0382.431.531 trong máy điện thoại ra ném xuống đường rồi tiếp tục đi xe ôm về nhà. Thành trả tiền xe ôm hết 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng) trong số tiền 1.500.000đ, còn lại 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) Thành giữ lại trong người.
Ông Q ngay sau đó đã đến Công an xã Phù Lưu trình báo sự việc. Đến 18 giờ 30 phút ngày 12/3/2023, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, không thể che dấu nên Thành đã đến Công an xã Phù Lưu xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Đồng thời giao nộp lại chiếc điện thoại di động lấy trộm của ông Q và số tiền 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) cho Cơ quan Công an.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu sơn trắng – đen BKS 34N8 – 4907 số khung: 12358Y4077431, số máy: HC12E2148172; năm sản xuất 2009, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J8 màu vàng cát, dung lượng 32 GB, số IMEL 1: 359051097477939, số EMAL 2: 359052097477937 đã qua sử dụng; 01 giá bằng sắt để hàng loại tròn phi 14 hàn khung ngoài, bên trong hàn các thanh kim loại phi 10 kích thước (83x47x121)cm đã qua sử dụng trọng lượng 09 kg; 02 sọt bằng sắt được hàn bằng sắt vuông 01cm làm khung, bên trong hàn các thanh sắt lá bề mặt 1.5cm kích thước (43x61x40)cm đã qua sử dụng, mỗi sọt có trọng lượng 10kg. Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 1.440.000 đồng
Ngày 15/3/2023, Cơ quan CSDT – Công an huyện Ứng Hoà đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 17 đối với: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu sơn trắng – đen BKS 34N8 – 4907 số khung: 12358Y4077431, số máy: HC12E2148172; năm sản xuất 2009, đã qua sử dụng; Chi phí làm lại 01 chiếc sim viettel số 0382432531; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J8 màu vàng cát, dung lượng 32 GB, số IMEL 1: 359051097477939, số EMAL 2: 359052097477937 đã qua sử dụng; 01 giá bằng sắt để hàng loại tròn phi 14 hàn khung ngoài, bên trong hàn các thanh kim loại phi 10 kích thước (83x47x121)cm đã qua sử dụng trọng lượng 09 kg; 02 sọt bằng sắt được hàn bằng sắt vuông 01cm làm khung, bên trong hàn các thanh sắt lá bề mặt 1.5cm kích thước (43x61x40)cm đã qua sử dụng, mỗi sọt có trọng lượng 10kg.
Ngày 16/3/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ứng Hoà đã có bản Kết luận định giá tài sản số 16, kết luận: Tổng giá trị tài sản là 4.415.000đ (Bốn triệu bốn trăm mười năm nghìn đồng).
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 35/CT-VKS ngày 08 tháng 5 năm 2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo §inh Xu©n Thµnh về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1; kho¶n 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo §inh Xu©n Thµnh từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận l¹i tµi s¶n và không yêu cầu gì. Sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 1.440.000 ®ång là tiền thu lîi bÊt chÝnh. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Điều tra viên Công an huyện Ứng Hòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, phù hợp với các quy định của BLTTHS.
Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của bị hại, người liên quan và người làm chứng; vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 12/3/2023, tại thôn Phù Lưu Hạ, xã Phù Lưu, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội, Đinh Xuân T đã lén lút chiếm đoạt 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS 34N8 – 4907, trong cốp xe có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, đằng sau xe có 02 sọt và 01 giá bằng sắt của ông Phạm Văn Quý. Tổng giá trị tài sản Thành đã chiếm đoạt được là 4.415.000 đồng.
Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo §inh Xu©n Thµnh đã thực hiện là nguy hiểm, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đến trật tự công cộng mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở nhiều địa phương. BÞ c¸o cã nh©n th©n xÊu: 01 tiÒn ¸n 24 th¸ng tï vÒ téi: “VËn chuyÓn tr¸i phÐp chÊt ma tóy” 01 tiÒn ¸n vÒ téi “Trém c¾p tµi s¶n” víi møc h×nh ph¹t 09 th¸ng tï; 01 tiÒn ¸n vÒ téi “c ìng ®o¹t tµi s¶n” víi h×nh h×nh ph¹t tï lµ 48 th¸ng (§Òu ®· ® îc xãa ¸n tÝch) BÞ c¸o kh«ng lÊy ®ã lµm bµi häc cho b¶n th©n, l¹i tiÕp tôc ph¹m téi. Do đó phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng đối với bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới phản ánh đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ®· ra ®Çu thó, do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm s khoản 1, kho¶n 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình có hoàn C kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với anh Nguyễn Vĩnh C đã mua chiếc xe máy, 01 chiếc giá sắt, 02 chiếc sọt sắt của Đinh Xuân T trộm cắp được ngày 12/3/2023. Quá trình điều tra xác định anh C không biết đó là tài sản do Thành trộm cắp được mà có nên Cơ quan Điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Ngày 28/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ứng Hoà đã ra quyết định trưng cầu giám định số 72 đối với số khung, số máy nguyên thuỷ của chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RSX, màu sơn trắng – đen, BKS 34N8-4907 tại Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội. Ngày 12/4/2023, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội có kết luận số 2153 kết luận: số khung nguyên thuỷ: RLHHC12358Y407431; số máy nguyên thuỷ: HC12E-2148172. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là của anh Trần Văn Đạt (con rể của ông Q) mua lại của anh Bùi Ngọc Đạo tại huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương năm 2010, việc mua bán xe có giấy mua bán, tuy nhiên do đã lâu nên anh Đạt đã làm mất giấy tờ, đến năm 2020 anh Đạt đã cho ông Q chiếc xe này. Qua tra cứu chiếc xe không phải tang vật trong vụ án nào. Ngày 19/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ứng Hoà đã ra quyết định xử lý vật chứng số 20 bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Văn Quý chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu sơn trắng - đen, BKS 34N8-4907; 01 giá bằng sắt để hàng; 02 sọt bằng sắt; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy J8 màu vàng cát là có căn cứ ®óng ph¸p luËt.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 1.500.000đ anh Nguyễn Vĩnh C đã thanh toán cho Đinh Xuân T để mua lại chiếc xe, anh C có quan điểm đây là số tiền nhỏ, anh không yêu cầu bị cáo hay ai phải bồi thường cho mình; đối với ông Phạm Văn Quý, đã nhận lại đủ các tài sản bị mất, còn chiếc sim điện thoại số 0382.431.531 có giá trị nhỏ, ông Q cũng không yêu cầu ai phải bồi thường cho mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.
§èi víi số tiền 1.440.000 đồng thu cña §inh Xu©n Thµnh; đây là số tiền thu lời bất chính nên cần tịch thu sung vào ng©n s¸ch Nhµ N íc.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo, người bị hại và ng êi cã quyÒn lîi nghÜa vô liªn quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333BLTTHS năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; §iÒu 46; §iÒu 47 của Bé luËt h×nh sù;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo §inh Xu©n Thµnh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt §inh Xu©n Thµnh: 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2023.
3. Về vật chứng: Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
(Theo Ủy nhiệm chi ngày 22/05/2023 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà).
4. Về án phí: Bị cáo §inh Xu©n Thµnh phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục THADS Ứng Hoà; - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT; - Bị cáo; - Đương sư; - Lưu hs; V/P./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Bích Hằng |