vanban.org

Bản án 36/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Tuyên án 17/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù Th từ ngày 27 tháng 02 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày 17 tháng 7 năm 2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thiện Pháp và ông Phan Minh Quốc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2023/TLST-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh P, sinh ngày 02/7/1992. Nơi cư trú: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới Th: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1948 (đã chết) và bà Khưu Thị Kim L, sinh năm 1966; bị cáo là con một trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền sự: Ngày 13/8/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn 16 tháng, đến ngày 26/8/2019 chấp hành xong quyết định. Ngày 28/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn 12 tháng, ngày 11/5/2021 chấp hành xong Quyết định.

Tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2023 đến ngày 05/3/2023 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Đặng Đức T, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Cao Thị Mỹ D, sinh năm 2003. Nơi cư trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt)

Người làm chứng:

1/ Chị Nguyễn Thị Bình A, sinh năm 1987 (vắng mặt)

2/ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 (vắng mặt)

3/ Ông Nguyễn Ngọc Đ1, sinh năm 1963 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 27/02/2023, Nguyễn Thanh P mang theo 01 chìa khóa vòng miệng 13mm màu trắng; 01 chìa khóa vòng 8mm, một đầu được mài nhọn; 01 lưỡi cưa bằng kim loại màu trắng, một đầu được quấn khẩu trang; 01 cây kiềm cán bằng nhựa và điều khiển xe mô tô biển số 67N9 - 9438 từ thành phố L vào huyện Thoại Sơn để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi qua nhà của Đặng Đức T thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang thấy trong sân nhà có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển số 67M1 - 064.96 của anh T nhưng không người trông giữ nên dừng lại, P dựng xe mô tô 67N9-4938 trước cổng rồi sử dụng công cụ mang theo bẻ khóa lấy trộm xe mô tô 67M1 - 064.96 dẫn ra đường tẩu thoát thì bị anh T và Nguyễn Thị Bình A, Nguyễn Văn T phát hiện, bắt giữ P giao cho Công an xã Thoại Giang lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.

Ngày 03/3/2023, P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn khởi tố để điều tra.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67M1-064.96, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, số máy 5C63579869, số khung C630BY579817; 01 xe mô tô biển số 67N9-9438, nhãn hiệu DAMSAN, số khung VHHDCH094UM097250, số máy VHHJL152FM00097250; 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng; 01 chìa khoá vòng miệng 13mm màu trắng; 01 thanh kim loại màu trắng (loại chìa khoá vòng 8mm), một đầu được mài nhọn; 01 lưỡi cưa bằng kim loại màu trắng một đầu được quắn khẩu trang; 01 cây kiềm cán bằng nhựa; 01 bóp da màu đen; 01 một giấy Hợp đồng cầm cố tài sản “ Dịch vụ cầm đồ Hồng ” địa chỉ trụ sở 577, tổ 20, KV T, Phường T, Quận T, Thành phố Cần Thơ.

Tại Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 03/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thoại Sơn, xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển số 67M1-064.96 trị giá 9.150.000 đồng.

Tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 17/4/2023 của Công an huyện Thoại Sơn, ghi nhận:

- Xe mô tô biển số 67N9 - 9438, màu đỏ đen, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, số khung RLHJC4325AY031019, số máy JC43E5035146, chủ xe là Cao Văn Nghệ, địa chỉ: 287/10A, phường Tây Khánh 8, phường Mỹ Hòa, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Xe gắn máy biển số 67L1 - 3154, màu đỏ, nhãn hiệu 110B, số khung VHHDCH094UM097250, số máy VHHJL152FM00097250, chủ xe là Trần Nhật T2, địa chỉ: 1018/2, phường Tây Khánh B2, phường Mỹ Hòa, thành phố L, tỉnh An Giang

Theo Kết luận giám định số 51/KL-KTHS (KT-GT) ngày 27/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, xác định: Số khung, số máy của xe mô tô gửi giám định không bị đục sửa, không bị cắt hàn, không bị hoen gỉ, không bị tẩy xóa.

Ngày 17/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn đã trao trả xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển số 67M1-064.96 cho Đặng Đức T.

Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSTS-HS ngày 24/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Bị hại anh Đặng Đức T, người làm chứng chị Nguyễn Thị Bình An và ông Nguyễn Văn Tâm (vợ, anh ruột của T) trình bày phù hợp như nội dung vụ án đã nêu. Anh T đã nhận lại xe, không yêu cầu bồi thường và đề nghị xử lý P theo quy định pháp luật.

Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc Đ1 trình bày: Đức là anh rễ của Trần Nhật T2. Xe mô tô biển số 67L1-3154 do Trường đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô; năm 2022 Trường đã bán xe mô tô nói trên cho một người không rõ họ tên, địa chỉ và không tranh chấp xe mô tô trên.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào Th chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không đề cặp xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử lý theo quy định pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Th hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người bị hại, người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các biên bản hoạt động tố tụng. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Ngày 27/02/2023, bị cáo Nguyễn Thanh P đã lén lút lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển số 67M1 - 064.96 của anh Đặng Đức T trị giá 9.150.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù.

Đánh giá Th chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thanh P là người có sức khỏe nhưng không chịu lo lao động để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình; vì muốn có tiền tiêu xài nhưng không phải lao động vất vả bị cáo bất chấp pháp luật; bị cáo biết trộm cắp tài sản người khác là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật, do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với Th chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thật thà khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải.

Các biện pháp tư pháp khác: Do bị hại nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ được các vật chứng sau:

- 01 xe mô tô biển số 67N9-9438, nhãn hiệu DAMSAN, số khung VHHDCH094UM097250, số máy VHHJL152FM00097250;

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng;

- 01 chìa khoá vòng miệng 13mm màu trắng;

- 01 thanh kim loại màu trắng (loại chìa khoá vòng 8mm), một đầu được mài nhọn;

- 01 lưỡi cưa bằng kim loại màu trắng một đầu được quắn khẩu trang;

- 01 cây kiềm cán bằng nhựa;

- 01 bóp da màu đen;

- 01 một giấy Hợp đồng cầm cố tài sản “ Dịch vụ cầm đồ Hồng ” địa chỉ trụ sở 577, tổ 20, KV T, Phường T, Quận T, Thành phố Cần Thơ.

Các vật chứng trên cần phân hóa ra xử lý như sau:

Đối với 01 xe mô tô biển số 67N9-9438, màu đỏ, nhãn hiệu DAMSAN, số khung VHHDCH094UM097250, số máy VHHJL152FM00097250, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên tuyên bố tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Các tài sản 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng thuộc quyền sở hữu bị cáo, không liên quan vụ án nên trả lại cho bị cáo;

Đối với 01 chìa khoá vòng miệng 13mm màu trắng; 01 thanh kim loại màu trắng (loại chìa khoá vòng 8mm), một đầu được mài nhọn; 01 lưỡi cưa bằng kim loại màu trắng một đầu được quắn khẩu trang; 01 cây kiềm cán bằng nhựa là những công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bóp da màu đen; 01 một giấy Hợp đồng cầm cố tài sản “ Dịch vụ cầm đồ Hồng ” địa chỉ trụ sở 577, tổ 20, KV T, Phường T, Quận T, Thành phố Cần Thơ đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa xác định chủ sở hữu nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Nguyễn Thanh P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù Th từ ngày 27 tháng 02 năm 2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67N9-9438, màu đỏ, nhãn hiệu DAMSAN, số khungVHHDCH094UM097250, số máy VHHJL152FM00097250 (đã qua sử dụng);

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh P 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng (tất cả đã qua sử dụng);

Tịch thu tiêu hủy 01 bóp da màu đen; 01 một giấy Hợp đồng cầm cố tài sản “ Dịch vụ cầm đồ Hồng ” địa chỉ trụ sở 577, tổ 20, KV T, Phường T, Quận T, Thành phố Cần Thơ (được để trong bóp da); 01 chìa khoá vòng miệng 13mm màu trắng; 01 thanh kim loại màu trắng (loại chìa khoá vòng 8mm), một đầu được mài nhọn; 01 lưỡi cưa bằng kim loại màu trắng một đầu được quấn khẩu trang; 01 cây kiềm cán bằng nhựa (tất cả đã qua sử dụng).

(Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 28/QĐ-VKSTS ngày 24/5/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ