vanban.org

Bản án 36/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Về án phí: căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Thanh V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh V Đ341 - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 34…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày 30-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Thà.

2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: bà Đoàn Thị Trúc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Tới – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Thanh V, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1964 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có vợ tên Hoàng Thị R và 06 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/3/2023 tại xã P, huyện B, tỉnh Tây Ninh đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh V đã đăng ký đào tạo và sát hạch cấp giấy phép lái xe nhưng không trúng tuyển. Khoảng đầu tháng 12/2020, Trần Thanh V sử dụng mạng xã hội Facebook biết được trang mua bán giấy phép lái xe không cần học và thi sát hạch. Nhằm mục đích xuất trình khi bị cơ quan chức năng kiểm tra nên V nhắn tin đặt mua giấy phép lái xe hạng A2 với giá 750.000 đồng. V chụp thông tin giấy tờ tùy thân, ảnh cá nhân và thông tin liên lạc, địa chỉ gửi cho người bán, không tham gia thi sát hạch. Khoảng 01 tháng sau nhân viên giao hàng gửi cho V bì thư bên trong có giấy phép lái xe hạng A2 số 720202959467 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Tây Ninh cấp ngày 07/12/2020, V đã thanh toán số tiền 750.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ 35 phút ngày 22/12/2022 sau khi sử dụng rượu, V điều khiển xe mô tô biển số 70T2-3127 lưu thông trên đường Quốc lộ 22B. Khi đến khu vực ấp S, xã P, huyện B thì bị Tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện B phát hiện, dừng phương tiện kiểm tra. Quá trình kiểm tra nhận thấy giấy phép lái xe có dấu hiệu làm giả, Tổ tuần tra đã lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ phương tiện, giấy phép lái xe của V. Ngày 28/12/2022, Công an huyện Tân Biên ban hành Quyết định trưng cầu giám định tại Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tây Ninh đối với giấy phép lái xe do V giao nộp.

- Kết luận giám định số 1767/KL-KTHS ngày 10/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE” Số/No: 720202959467, Họ tên TRẦN THANH V, Ngày sinh: 22/04/1964, Nơi cư trú: T, X. P, H. B, T. Tây Ninh, ngày 07 tháng 12 năm 2020 là giả.

Ngày 03/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Thanh V. Tại cơ quan điều tra, Trần Thanh V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 25/CT-VKSTB ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố bị cáo Trần Thanh V về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 341, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh V từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không trình bày tranh luận.

Bị cáo V nói lời sau cùng: mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: khoảng 19 giờ 35 phút ngày 22/12/2022, Trần Thanh V sử dụng rượu bia sau đó điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường Quốc lộ 22B đến khu vực ấp S, xã P, huyện B thì bị kiểm tra hành chính, tạm giữ giấy phép lái xe và phương tiện. Công an huyện Tân Biên đã trưng cầu giám định đối với giấy phép lái xe do V giao nộp. Kết luận giám định số 1767/KL-KTHS ngày 10/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tây Ninh kết luận Giấy phép lái xe số 720212535261 của Trần Thanh V là giả. Quá trình điều tra xác định khoảng tháng 12/2020, V đặt mua giấy phép lái xe giả trên qua mạng xã hội Facebook với giá 750.000 đồng.

Hành vi của Trần Thanh V có đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 25/CT–VKSTB ngày 09/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố bị cáo Trần Thanh V là có căn cứ.

Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan nhà nước, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai nhận đầy đủ, đúng sự thật những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Hình phạt áp dụng:

Hình phạt chính: căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Mặt khác bị cáo có tài sản là quyền sử dụng đất, có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ Điều 35 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền để quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối tượng có hành vi làm giấy phép lái xe giả cho Trần Thanh V không xác định được nhân thân, lý lịch; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên chưa tiến hành làm việc được.

Giấy phép lái xe giả số 720202959467 mang tên Trần Thanh V là vật chứng nên Hội đồng xét xử tịch thu lưu trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh V 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

2. Về án phí: căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Thanh V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ