vanban.org

Bản án 36/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 14/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 . Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang Th phạm các tội tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quang Th 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. 2. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quang Th 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang Th phạm các tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” - phạm tội làm giả con dấu,…"
  • Tòa quyết gì? 1 . Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang Th phạm các tội tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-ST
Ngày 14-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Văn Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Thế Kỳ và ông Nguyễn Xuân Thùy

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Chiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk R’lấp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’lấp tham gia phiên toà:

ông Phan Văn Tiền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Quang Th (tên gọi khác: Đùm), sinh năm 1990 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn 2B, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không ; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Lê Kim Th1 và bà Nguyễn Thị D; tiền án, tiền sự: không; đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do đã bị mất giấy phép lái xe hạng A1 nên khoảng tháng 7/2022, Lê Quang Th sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên "Run Cầm Cập" của Th để nhắn tin, trao đổi với tài khoản Facebook nhận làm giấy phép lái xe giả và đặt làm 01 giấy phép lái xe hạng A1 với giá 1.200.000 đồng. Th cung cấp ảnh chân dung, căn cước công dân, thông tin và địa chỉ của Th cho tài khoản Facebook nhận làm giả giấy phép lái xe. Khoảng một tuần sau Th nhận giấy phép lái xe giả và thanh toán tiền cho người giao hàng. Sau khi kiểm tra thông tin trên giấy phép lái xe số 660220159880, mang tên Lê Quang Th, sinh ngày 19/4/1990, nơi cư trú: Thôn 2B, X. E, H.B, T. Đắk Lắk ghi Sở GTVT tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 14/7/2022; thấy đúng thông tin của mình nên Th đã sử dụng giấy phép lái xe này để tham gia giao thông. Ngày 07/12/2022, Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 47D1 - 570.83 di chuyển theo hướng từ Tp. Hồ Chí Minh về huyện B, tỉnh Đắk Lắk; khi đến KM1933 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn 3, xã Q, huyện Đ thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an tỉnh Đắk Nông lập biên bản vi phạm hành chính do chạy quá tốc độ cho phép và tạm giữ giấy phép lái xe nêu trên; nghi ngờ giấy phép lái xe là giả nên Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Nông chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông để xử lý. Kết luận giám định số: 27/KL-KTHS ngày 03/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận giấy phép lái xe gửi đến giám định không phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Ngày 07/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R'lấp để giải quyết theo thẩm quyền.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Nông đã thu giữ 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 660220159880, mang tên Lê Quang Th; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 47000069, mang tên Lê Quang Th; 01 xe mô tô nhân hiệu Yamaha, BKS 47D1-57083. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Rlấp đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số seri S4IRNTOBOINNNZRC đã qua sử dụng.

Ngày 24/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R'lấp đã trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 47000069 và xe mô tô BKS 47D1-57083 cho Lê Quang Th.

Tại bản Cáo trạng số: 35/CT-VKS, ngày 12/6/2023 của VKSND huyện Đắk R’lấp đã truy tố bị cáo Lê Quang Th về các tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang Th từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang Th từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng: đề nghị chấp nhận trong quá trình điều tra đã trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 47000069 và xe mô tô BKS 47D1 - 570.83 cho Lê Quang Th. Đối với điện thoại di động bị cáo Th sử dụng liên hệ làm giấy tờ giả đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Đối với giấy phép lái xe giả hạng A1 số 669220159880, mang tên Lê Quang Th là căn cứ buộc tội bị cáo nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk R’lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng tháng 7/2022, do bị mất giấy phép lái xe mô tô nên Lê Quang Th đã thông qua mạng xã hội Facebook cung cấp thông tin cá nhân, ảnh chân dung của Th cho đối tượng không rõ nhân thân lai lịch đặt làm giả 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Quang Th với chi phí 1.200.000 đồng. Sau khi nhận được giấy phép lái xe giả Th đã sử dụng để tham gia giao thông. Ngày 07/12/2022, Th điều khiển xe mô tô BKS 47D1 - 570.83 vi phạm tốc độ tại địa phận thôn 3, xã Quảng Tín, huyện Đắk R'lấp thì bị lực lượng CSGT Công an tỉnh Đắk Nông kiểm tra, phát hiện nên đã xuất trình giấy phép lái xe đặt làm qua mạng. Kết luận giám định xác định giấy phép lái xe hạng A1 số 669220159880, mang tên Lê Quang Th là giả. Hành vi của bị cáo đã phạm các tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự: “Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.”.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo đồng thời ăn năn hối cải; hành vi thuê người “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nhiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được thực hiện sau khi đã phạm tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức nên bị cáo chỉ được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo đồng thời ăn năn hối cải đối với tội danh này theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về các tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng: Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 47000069 và xe mô tô BKS 47D1-57083 đã trả lại cho Lê Quang Th là phù hợp nên chấp nhận. Đối với điện thoại di động bị cáo Th sử dụng liên hệ làm giấy tờ giả nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với giấy phép lái xe giả hạng A1 số 669220159880 tên Lê Quang Th là căn cứ buộc tội bị cáo cần lưu theo hồ sơ vụ án nên không xem xét xử lý.

. Về án phí: bị cáo bị kết án là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 . Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang Th phạm các tội tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quang Th 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Quang Th 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo Lê Quang Th phải chấp hành 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Xử lý vật chứng:

2.1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận trong quá trình điều tra đã trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 47000069 và xe mô tô BKS 47D1-57083 cho bị cáo Lê Quang Th.

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số seri S4IRNTOBOINNNZRC đã qua sử dụng. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận ngày 13/6/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’lấp).

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Quang Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ