vanban.org

Bản án 36/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 04/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Thanh B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS - ST
Ngày 04/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Hoàng Huy

2. Ông Triệu Văn Thiết

- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Khuyến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đức Chính – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2023/TLST- HS ngày 05/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST- HS ngày 21/7/2023 đối với bị cáo:

TRIỆU THANH B (tên gọi khác không); sinh ngày 05 tháng 6 năm 1976 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 05/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Thanh V (đã chết) và bà Hoàng Thị Đ; vợ: Hà Thị P; con: Có 02 (hai) con (con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2010); tiền sự: Không; tiền án: Không (Tuy nhiên trước đó bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 02/1999/HSST ngày 05/01/1999 đến ngày 09/10/1999 thì chấp hành án xong trở về địa phương sinh sống , hiện tại đã được xóa án tích); nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 30/03/2023 đến ngày 07/4/2023 thì được hủy bỏ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 40 phút ngày 30/3/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Công an xã N đang làm nhiệm vụ tại thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện và bắt quả tang bị cáo Triệu Thanh B đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: B tự nguyện xuất trình từ trong túi áo khoác ngoài bên trái của Bình đang mặc 01 (một) túi nilon trong suốt, miệng túi có viền màu đỏ được quấn bên ngoài bằng dây cao su màu da cam, bên trong túi nilon có 59 (năm chín) gói giấy màu trắng, có dòng kẻ màu xanh, bên trong đều chứa cục và bột màu trắng nghi là ma túy. Tiến hành trích mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong 59 (năm chín) gói trên vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy (thuốc thử Heroine) do Bộ Công an sản xuất, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím, phản ứng dương tính với chất ma túy loại Heroine. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu B1.

Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn lập hồi 00 giờ 00 phút, ngày 31 tháng 3 năm 2023 xác định: Cân toàn bộ cục và bột màu trắng có trong 59 (năm chín) gói giấy trong phong bì ký hiệu B1 có khối lượng là 2,35g (hai phẩy ba năm gam) niêm phong trong phong bì mới B2 để gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định. Còn 01 (một) túi ni lon trong suốt miệng túi có viền màu đỏ, dây cao su màu da cam; 59 (năm chín) gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh cùng phong bì niêm phong ban đầu B1 được cho vào phong bì mới ký hiệu B3.

Tại Kết luận giám định số: 116/KL-KTHS ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bồ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B2 có khối lượng là: 2,35g (hai phẩy ba năm gam).

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Triệu Thanh B khai nhận: 59 (năm chín) gói nhỏ có chứa cục và bột màu trắng mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Heroine do bị cáo B mua về với mục đích sử dụng cá nhân. Cụ thể: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/3/2023, bị cáo một mình đi bộ từ nhà đi ra khu vực chợ xã N thuộc thôn K, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về để sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi trông giống người nghiện (không biết họ, tên, địa chỉ) nên đã hỏi mua ma túy với người đàn ông trên và được người đàn ông trên đồng ý bán. Bị cáo B đưa cho người đàn ông đó số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) rồi người đàn ông đưa cho B 01 (một) túi nilon trong suốt, miệng túi có viền màu đỏ, bên trong túi nilon chứa 60 (sáu mươi) gói nhỏ ma túy, tất cả được gói bởi gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh. Mua được ma túy bị cáo cất gói ma túy vừa mua được cho vào túi áo ngoài bên trái bị cáo đang mặc rồi đi về nhà, khi đến đoạn đường vắng, không rõ địa chỉ, bị cáo lấy 01 (một) gói ma túy trong số ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức đốt hít. Số còn lại 59 (năm chín) gói B nhặt 01 (một) dây cao su màu da cam để quấn bên ngoài và cất vào trong túi áo khoác ngoài đang mặc rồi tiếp tục đi bộ về nhà, khi đi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị tổ Công tác Công an huyện Chợ Đồn phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy.

Về vật chứng cơ quan điều tra tạm giữ trong vụ án gồm: số ma túy (heroine) thu giữ của bị cáo Triệu Thanh B sau khi trích giám định còn lại 2,28g (hai phẩy hai tám gam), phong bì và bao gói cũ được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T67 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một phong bì ký hiệu B3 bên trong có chứa 01 (một) túi ni lon trong suốt miệng túi có viền màu đỏ

- dây cao su màu da cam, 59 (năm mươi chín) gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh cùng phong bì niêm phong ban đầu B1.

Tại bản cáo trạng số: 36/CT - VKSCĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Triệu Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Triệu Thanh B phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Thanh B từ 30 tháng đến 36 tháng tù được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ (kể từ ngày 30/03/2023 đến ngày 07/4/2023).

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Đề nghị phạt tiền bị cáo từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 7.000.000đ (bảy triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng đề nghị: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (Heroine) thu giữ của bị cáo Triệu Thanh B sau khi trích giám định còn lại 2,28g (hai phẩy hai tám gam), phong bì và bao gói cũ được niêm phong trong 01 (Một) phong bì ký hiệu T67 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) phong bì ký hiệu B3 bên trong có chứa 01 (một) túi ni lon trong suốt miệng túi có viền màu đỏ - dây cao su màu da cam, 59 (năm mươi chín) gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh cùng phong bì niêm phong ban đầu B1.

Về án phí đề nghị: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo một mình thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nên bị cáo tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/03/2023, bị cáo Triệu Thanh B một mình đi bộ từ nhà ở thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn ra khu vực chợ xã N, tại đây bị cáo B đã có hành vi mua trái phép 60 (sáu mươi) gói ma túy Heroine với một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) để sử dụng cá nhân. Sau khi mua được ma túy bị cáo B cất gói ma túy vừa mua được cho vào túi áo ngoài bên trái bị cáo đang mặc rồi đi về nhà, khi đến đoạn đường vắng, không rõ địa chỉ, bị cáo B lấy 01 (một) gói ma túy trong số ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức đốt hít. Số còn lại 59 (năm mươi chín) gói bị cáo nhặt 01 (một) dây cao su màu da cam để quấn bên ngoài và cất vào trong túi áo khoác ngoài đang mặc rồi tiếp tục đi bộ về nhà. Đến 20 giờ 40 phút cùng ngày khi đi đến khu vực thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Cơ quan Công an huyện Chợ Đồn bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy với tổng khối lượng là 2,35g (hai phẩy ba năm gam).

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định là chất ma tuý (Heroine) và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì bị cáo nghiện chất ma túy do đó để thoả mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn thực hiện. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 02/1999/HSST ngày 05/01/1999, hiện tại đã được xóa án tích - nên bị cáo không được coi là có nhân thân tốt.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Ngoài hình phạt chính theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị bổ sung là phạt tiền. Qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo có tài sản, có khả năng để thi hành hình phạt bổ sung. Do đó, cần xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma túy (Heroine) thu giữ của bị cáo Triệu Thanh B sau khi trích giám định còn lại 2,28g (hai phẩy hai tám gam), thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành - cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) phong bì ký hiệu T67 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn trên bì ghi: Mẫu hoàn trả vụ: Triệu Thanh B 1976 tàng trữ trái phép chất ma túy (bên trong có chứa phong bì và bao gói cũ được niêm phong); 01 (một phong bì ký hiệu B3 bên trong có chứa 01 (một) túi ni lon trong suốt miệng túi có viền màu đỏ - dây cao su màu da cam, 59 (năm mươi chín) gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh cùng phong bì niêm phong ban đầu B1– xác định đều là vật chứng không có giá trị được tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Triệu Thanh B là người đã bán ma túy Heroine cho bị cáo tại khu vực chợ xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Kết thúc điều tra bị cáo Triệu Thanh B không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Triệu Thanh B phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Triệu Thanh B 30 (ba mươi) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 30/03/2023 đến ngày 07/4/2023). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.

Xử phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Triệu Thanh B 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Việc thi hành án được thực hiện theo Điều 357 của Bộ luật dân sự và Luật thi hành án dân sự.

[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu T67 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, trên bì ghi: Mẫu hoàn trả vụ: Triệu Thanh B 1976 tàng trữ trái phép chất ma túy (bên trong phong bì chứa 2,28g (hai phẩy hai tám gam) ma túy loại Heroine, cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B3 bên trong có chứa 01 (một) túi ni lon trong suốt miệng túi có viền màu đỏ - dây cao su màu da cam, 59 (năm mươi chín) gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh cùng phong bì niêm phong ban đầu B1.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Triệu Thanh B phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”

[5]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ