vanban.org

Bản án 36/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 21/04/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2022/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Trần Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2022/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-PT
Ngày 21-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Thẩm phán: Ông Võ Việt Minh

Bà Vũ Thị Thanh Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hưng là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 26/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo Trần Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2022/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn N, sinh năm 1983, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lao động biển; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S và bà Tăng Thị Ngọc H; có vợ là Nguyễn Thị Ánh H1 và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 09/6/2022, sau khi đi biển vào, Trần Văn N chèo thúng đến cập bến ở điểm neo đậu tàu thuyền ở khu vực Sông P thuộc khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để đi về nhà. Khi đi bộ ngang qua bãi đỗ xe, Năm nhìn thấy xe mô tô biển số 86C1-499.52 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thái L có gắn sẵn chìa khóa trên xe nhưng không có ai trông coi nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Năm lén lút tiếp cận rồi xoay chìa khóa khởi động xe và điều khiển xe mô tô trên chạy về nhà cất giấu.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, ông L phát hiện bị mất xe nên đến Công an phường P trình báo sự việc. Qua kiểm tra camera tại nhà người dân gần bãi đỗ xe, phát hiện đối tượng trộm cắp là Trần Văn N nên Công an phường P mời đến trụ sở làm việc nhưng Năm không có nhà. Khoảng 14 giờ, trong lúc Năm đang ra ngoài thì nhận được điện thoại của người nhà báo có Công an đến tìm. Năm biết việc mình trộm cắp tài sản đã bị phát hiện nên điều khiển xe mô tô lấy trộm lúc sáng đến dựng lại tại vị trí ban đầu, rồi đến Công an phường P trình diện, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đến 15 giờ 40 phút cùng ngày, ông L thấy chiếc xe mô tô của mình được để lại chỗ cũ nên đưa tài sản đến C để làm căn cứ giải quyết.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe mô tô biển số 86C1-499.52, loại Sirius, màu sơn đen vàng, số máy: 1FC3147329, số khung: FC30FY147404;

- 01 (một) USB có dung lượng 4Gb, có ký hiệu D33B29, lưu giữ 03 đoạn camera an ninh có thời lượng ghi nhận là 03 phút 13 giây, 01 phút 57 giây và 01 phút 17 giây, ghi nhận diễn biến vụ trộm cắp tài sản (do chị Mai Thị Kim Y, sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã H, huyện H giao nộp).

Tại Kết luận định giá tài sản số 114/KL-HĐĐG ngày 05/9/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 chiếc xe mô tô biển số 86C1-499.52, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen vàng. Tổng giá trị tài sản là: 7.350.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2022/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trần Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyết định khác về án phí và thông báo quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng biết.

Ngày 03 tháng 01 năm 2023, bị cáo Trần Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo có thời gian lao động nuôi sống gia đình.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo có thời gian lao động nuôi sống gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Trần Văn N là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, thế nhưng khoảng 10 giờ ngày 09/6/2022, tại bãi đỗ xe ở điểm neo đậu tàu thuyền ở khu vực Sông P thuộc khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, khi phát hiện xe mô tô biển số 86C1-499.52 trị giá 7.350.000 đồng thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thái L có gắn sẵn chìa khóa trên xe nhưng không có ai trông coi, bị cáo N đã lén lút tiếp cận, xoay chìa khóa khởi động xe và chiếm đoạt, điều khiển xe mô tô trên chạy về nhà cất giấu.

Với hành vi đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Về hình phạt, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; sau khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện đến Công an phường P để đầu thú, theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Trần Văn N 06 (sáu) tháng tù, là phù hợp.

Tại đơn kháng cáo cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Trần Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và có cung cấp kèm theo đơn xin bãi nại của bị hại Nguyễn Thái L. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo là xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà xử giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, và không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2022/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Căn cứ vào: Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21/4/2023).

Cỡ chữ