vanban.org

Bản án 36/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phung Quốc V, Nguyễn Đình D, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Vo Ngọc Q, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Tô Văn Kh, P…

Giư nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương về phần hình phạt đối với các bị cáo Phung Quốc V, Nguyễn Đình D, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Vo Ngọ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan thành R và đông phạm Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phung Quốc V, Nguyễn Đình D, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Vo Ngọc Q, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Tô Văn Kh, P…
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-PT
Ngày 23-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chu toa phiên toa: Ông Lê Sỹ Trứ.

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc.

Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13, 16 và 23 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 169/2022/TLPT-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Phan Thành Ril và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Phan Thành R, sinh năm 1985 tại tỉnh Cà Mau, nơi cư trú: ấp A, xa P, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thành R và bà Nguyễn Thị Co; bị cáo có vơ tên Trịnh Thị Cẩm V và 02 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

2. Nguyễn Đình D, sinh năm 1991 tại tỉnh Cà Mau, nơi cư trú: ấp B, xa P, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình V và bà Lê Hồng H; bị cáo có vơ tên Nguyễn Thị Hồng H và 01 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

3. Phan Thành Th, sinh năm 1981 tại tỉnh Cà Mau, nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp 9, xa K, huyện U , tỉnh Cà Mau; tạm trú: ấp B, xa P, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thành R và bà Nguyễn Thị C; bị cáo có vơ tên Đăng Hồng L và 02 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

4. Nguyễn Hoàng S (tên gọi khác: S Tửng), sinh năm 1995 tại tỉnh Vinh Long; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp T, xa T, huyện L, tỉnh Vinh Long; tạm trú: ấp D, xa A, thị xa Bến C, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chế L và bà Lê Thị Ngọc Ta; bị cáo có vơ tên Nguyễn Ngọc T và 01 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

5. Trần Văn Đ (tên gọi khác: Đ Độ), sinh năm 1999 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp Thạnh H, xa Thạnh L, huyện Châu T, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: ấp L, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Lê Thị P, bị cáo có vơ tên Nguyễn Thị Thanh H và 01 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

6. Trần Văn H, sinh năm 2002 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp T, xa T, huyện C, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: ấp L, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Lê Thị P, bị cáo có vơ tên Phạm Thị Trúc L và 01 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

7. Trần Văn K, sinh năm 1993 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp B, xa K, huyện A, tỉnh An Giang; tạm trú: ấp L, xa A, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Cao Thị H; bị cáo có vơ tên Nguyễn Thị Ngọc B (đa ly hôn) và 01 ngươi con; tiền án, tiền sự: không, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

8. Vo Ngọc Q, sinh năm 1984 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: ấp L, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vo Văn Cui (đa chết) và bà Trần Thị Si N; bị cáo có vơ tên Nguyễn Thị B và 03 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 11/9/2001, bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên phạt 03 năm tu về tội Tô chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2001/HS-ST, đa chấp hành xong bản ản án; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

9. Lê Văn T (tên gọi khác: Hậu), sinh năm 1999 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp Vi, xa V, huyện A, tỉnh An Giang; tạm trú: ấp L, xa A, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con bà Lê Thị G, không ro tên cha; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

10. Nguyễn Chí Qu, sinh năm 1995 tại tỉnh An Giang, nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp P, xa P, huyện A, tỉnh An Giang; tạm trú: ấp L, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Hoà Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị Thiên H; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

11. Trần Văn Ph, sinh năm 1997 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp T, xa T, huyện C, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: ấp L, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Lê Thị P; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 28/01/2016, bị cáo bị Công an huyện Vinh Thạnh, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khoe của ngươi khác theo quyết định số 03/QĐ-XPVPHC; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

12. Lê Đình H1, sinh năm 2001 tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp 9, xa S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: ấp A, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình L (đa chết) và bà Vo Thị L; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

13. Huỳnh Hải N (tên gọi khác: Đầu bự), sinh năm 1997 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp T, xa T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: ấp D, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Q và bà Lê Thị N; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

14. Tống Văn Ngh, sinh năm 1987 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: thôn 3 Y, xa T, huyện T, tỉnh Thanh Hoá; tạm trú: ấp L, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn Q và bà Lê Thị D; bị cáo có vơ tên Trần Thị O và 01 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

15. Đô Đạt Quốc T2 (tên gọi khác: Nam), sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp A, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; tạm trú: ấp L, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đô Văn C và bà Trần Thị N; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

16. Huỳnh Minh T3 (tên gọi khác: T Titan), sinh ngày 23/4/2002 tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: ấp T, xa N, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tới và bà Huỳnh Thị Hiếu; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

17. Nguyễn Tấn Ng, sinh năm 1998, tại tỉnh Vinh Long; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp T, xa T, huyện B, tỉnh Vinh Long; tạm trú: ấp A, xa P, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hưu L và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, bị cáo bo trốn và đa có quyết định truy na, vắng măt

18. Đinh Trần Trung H2 (tên gọi khác: H2 Rio), sinh năm 1997 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp T, xa V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: ấp D, xa A, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn H và bà Trần Lê Nhựt D; bị cáo có vơ tên Lỹ Ngọc T (đa ly hôn năm 2021) và có 01 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

19. Nguyễn Phương Q1, sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Dương, nơi cư trú: ấp L, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tung P và bà Đinh Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

20. Phung Quốc V, sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp 4, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; tạm trú: ấp An T, xa Phú An, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phung Gia P và bà Phạm Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

21. Huỳnh Văn N1, sinh năm 1992 tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp Đ, xa K, huyện T, tỉnh Cà Mau; tạm trú: ấp D, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T và bà Trần Thị X; bị cáo có vơ tên Nguyễn Kim P và 03 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

22. Tô Văn Kh, sinh năm 1996 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp T, xa T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: ấp D, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn S và bà Trần Thị T; bị cáo có vơ tên Nguyễn Thị M và 01 ngươi con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

23. Nguyễn Minh L, sinh năm 2001 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp Phước H, xa P, huyện A, tỉnh An Giang; tạm trú: ấp L, xa A, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Kiều Thị Se; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

24. Trần Văn N2, sinh năm 1995 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thương trú: ấp P, xa P, huyện A, tỉnh An Giang, tạm trú: ấp L, xa A, thị xa B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Hoà Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Tống Thị A; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khoi nơi cư trú, có măt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 26 bị cáo khác và 07 ngươi có quyền lơi nghia vụ liên quan đến vụ án nhưng không kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đươc tóm tắt như sau:

Ngày 15/8/2020, Nguyễn Văn V là công nhân Công ty sơn BAO LY, trụ sở tại xa Thanh Tuyền, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, đến Công ty YuHong (Hưng Thịnh Gia), trụ sở tại ấp Kiến An, xa An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương để kiểm tra kỹ thuật sơn. Trong lúc kiểm tra thì V tắt nguồn điện của dây chuyền mà nhóm công nhân do Trương Văn Thư quản lý đang hoạt động nên xảy ra mâu thuẫn với Thư dẫn đến bị nhóm của Thư đánh nhưng do V bo chạy đươc nên không bị thương tích. Lúc này, V về nhà kể lại cho bị cáo Nguyễn Duy K, biết sự việc, sau khi biết sự việc Kha có nói cho Nguyễn Hoàng L, Phan Thành R, Phan Thành Th, Nguyễn Đình D biết. Đến khoảng 17 giơ 00 phút cung ngày, thì Nguyễn Hoàng L, Phan Thành R, Phan Thành Th, Nguyễn Đình D, Nguyễn Duy K, Nguyễn Văn V cung đi đến trước công Công ty YuHong hẹn nhóm của Thư nói chuyện giải quyết mâu thuẫn của V để V đươc tiếp tục đi làm nhưng không găp đươc nhóm của Thư nên đi về.

Khoảng 10 giơ 00 phút ngày 16/8/2020, Nguyễn Văn V, Nguyễn Hoàng L, Phan Thành Th, Phan Thành R, Nguyễn Đình D, Nguyễn Duy K, Nguyễn Văn C, Thái Minh T, Phung Quốc V, và Đông (chưa ro nhân thân và lai lịch) tập trung uống cà phê tại quán “Tuyết Anh” thuộc ấp An Thuận, xa Phú An, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Trong khi uống nước thì các bị cáo có nói chuyện về việc V bị đánh và hoi ý kiến V có muốn đánh dằn măt nhóm của Thư không thì V đồng ý nên cả nhóm cung bàn bạc thống nhất cung đi đến ấp Kiến An, xa An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương để đánh dằn măt nhưng đối tương đa đánh V.

Sau khi thống nhất cung đi thì các bị cáo bắt đầu kêu thêm ngươi chuẩn bị xe và hung khí như sau:

Nguyễn Văn C gọi điện thoại rủ thêm Tô Văn Kh, Nguyễn Hoàng S. Sau đó C gọi điện thoại cho Nguyễn Trung H, để thuê xe ô tô chở các bị cáo đi đánh nhau thì Hiếu đồng ý, do quen biết nên Hiếu chưa thương lương giá thuê xe ô tô với C (H điều khiển xe ô tô biển số: 61A – 310.90 để chở các bị cáo đi tham gia đánh nhau), nhưng bị cáo mà C gọi điện thoại thì tiếp tục gọi điện thêm các bị cáo khác như sau:

Sau khi Chung gọi điện thoại cho Tô Văn Kh thì Kh tiếp tục gọi điện rủ thêm Nguyễn Chí Qu. Sau đó thì Qu gọi điện thoại rủ thêm Huỳnh Hải N, khi Qu gọi điện thoại cho N thì Nguyễn Ngọc H đang đứng kế bên nghe sự việc Qu gọi điện thoại rủ N đi đánh nhau thì H cung N đồng ý hô trơ Qu đi đánh nhau. Khi Tô Văn Kh đang trên đương đi từ Quán nhậu 868 thuộc ấp Lồ Ồ, xa An Tây, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương đi đến Quán cà phê “Tuyết Anh” thì Giang (chưa ro nhân thân và lai lịch) gọi điện thoại cho Kh hoi đi đâu, sau khi nghe Kh nói đi hô trơ Ch đánh nhau thì G kêu Kh đến đón G cung đi đánh nhau. Khi đến Quán cà phê “Tuyết Anh” G gọi điện thoại cho Tống Văn Ngh, lúc này G đưa điện thoại cho C nói chuyện với Ngh thì Ch nhơ Ngh thuê giúp 01 xe ô tô để đi đánh nhau, thì Ngh đồng ý, măc du Ch chỉ nhơ Ngh thuê xe chứ không cần Ngh đi hô trơ đánh nhau nhưng Ngh vẫn đồng ý tham gia hô trơ C đi đánh nhau. Sau khi đươc C nhơ thì Ngh gọi điện thoại cho Ngô Huỳnh Ph, để thuê 01 xe ô tô 16 chô đi đến xa An Lập, huyện Dầu Tiếng hai bên thoa thuận giá là 1.000.000 đồng (một triệu đồng), sau khi Ngh đồng ý giá thì Ph điều khiển xe ô tô 16 chô biển số 61B – 031.38 đi đến Quán nhậu 868 thuộc ấp Lồ Ồ, xa An Tây, thị xa Bến Cát đón Ngh. Lúc này Ngh đang nhậu tại Quán 868 cung với Linh (chưa ro nhân thân và lai lịch) và Vo Ngọc Q, nhìn thấy Ngh đi đánh nhau thì Linh và Q cung đồng ý đi theo. Phú điều khiển xe ô tô 16 chô biển số 61B – 031.38 chở Ngh, Linh và Q đi đến quán cà phê “Tuyết Anh” để đón thêm ngươi. Tại đây nhìn thấy 03 xe ô tô và có nhiều ngươi ngồi trên các xe ô tô này, lúc này có khoảng 20 ngươi lên xe ô tô 16 chô do Ph điều khiển và có nhiều ngươi cầm dao tự chế đi lên xe ô tô thì Ph biết nhưng ngươi đi lên xe ô tô của mình và nhưng xe ô tô khác đi đánh nhau nhưng Ph vẫn đồng ý chở.

Khi C gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng S thì S đang ở Quán nhậu “Hồ Sông Biển” thuộc ấp Lồ Ồ, xa An Tây, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương, lúc này Nguyễn Tuấn X, cũng đang có măt tại đây, S nói với X là Ch găpchuyện cần hô trơ thì X biết là đi đánh nhau và cũng đồng ý đi đến tập hơp cung C để đi đánh nhau.

Thái Minh T gọi điện thoại rủ thêm Đinh Trần Trung H2, Trần Văn Ph, Nguyễn Tấn Ng, Lê Đình H1, nhưng ngươi mà T gọi điện thoại thì tiếp tục gọi điện thoại rủ thêm ngươi khác như sau:

Sau khi T gọi điện thoại cho Đinh Trần Trung H2 thì Đoàn Quốc Kh có biết thông tin trên nhóm Facebook hoi Hiếu về địa điểm tập hơp mọi ngươi và tự đến tham gia, lúc này H2 đang ở phòng trọ của Trần Văn H nên H2 rủ thêm H thì H đồng ý tham gia đi cung với H2.

Sau khi T gọi điện thoại cho Trần Văn Ph thì Phước tiếp tục gọi điện thoại rủ thêm Trần Văn Đ, lúc này Đ đang uống cà phê cung với Huỳnh Minh T3 nên Đ rủ T3 cung tham gia thì T3 đồng ý, T3 tiếp tục gọi điện thoại rủ thêm Nguyễn Minh L. Sau khi gọi điện thoại xong thì Đ và T3 đi đến quán cà phê “Tuyết Anh” để tập hơp. Lê Đình H1 gọi điện thoại rủ Huỳnh Văn N1 và khi trên đương đi đến quán cà phê “Tuyết Anh” thì H1 găp Nguyễn Phương Q1, lúc này Q1 nghe H1 nói đi công chuyện thì Q1 chạy theo H1, khi đến nơi Q1 biết tập trung đi đánh nhau thì Q1 đồng ý tham gia. Sau khi H1 gọi cho N1 thì N1 tiếp tục gọi điện thoại rủ thêm Lê Văn T và Trần Văn K.

Nguyễn Duy Kha gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng B, nhơ thuê xe ô tô đi đến xa An Lập, huyện Dầu Tiếng đi công chuyện, sau khi thoa thuận giá 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng), B điều khiển xe ô tô 07 chô biển số 61A – 752.03 đi đến Quán cà phê “Tuyết Anh”, lúc này Kha nhơ B gọi điện thoại thêm 03 xe ô tô nưa, khoảng 12 giơ 00 phút cung ngày thì có 03 xe ô tô đến quán cà phê “Tuyết Anh” nhưng 02 xe ô tô bo về chỉ còn lại 01 xe ô tô taxi nhan hiệu Vinasun loại 07 chô ngồi biển số 51A – 778.37 do Hoàng Thanh T điều khiển. Tại đây, T găp B và biết là đi đến ấp Kiến An, xa An Lập, huyện Dầu Tiếng với giá 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng). Ban đầu T nghi là chở khách đi ăn tiệc, nhưng khi các bị cáo lên các xe ô tô thì nhìn thấy có nhiều bị cáo cầm hung khí thì biết là chở đi đánh nhau nhưng T vẫn đồng ý chở đi, rồi tiếp tục có thêm 01 ô tô loại 05 chô và 01 ô tô 16 chô có măt tại đây. Khi chuẩn bị đi thì B nhìn thấy phía trước đầu xe ô tô có ngươi cầm hung khí (dao tự chế) quấn trong tấm vải đưa lên xe ô tô 05 chô thì B nghi là chở nhưng ngươi này đi đánh nhau, khi bắt đầu đi thì nghe trên xe ô tô có ngươi nói là “Có hàng gì không” và nhìn thấy nhưng ngươi trên xe chuyền nhau một bình xịt giống bình xịt hơi cay thì Bảnh biết chở nhưng ngươi này đi đánh nhau nhưng Bảnh vẫn đồng ý chở đi.

Khoảng 12 giơ 00 phút ngày 16/8/2020, Đô Đạt Quốc T2, đang điều khiển xe mô tô đi ngoài đương thuộc ấp Dòng Soi, xa An Tây, thị xa Bến Cát thì găp một đối tương không ro lai lịch nói với T2 là “Anh em đụng chuyện gì mà tập trung đông dưới quán “Tuyết Anh” nên T2 đến khu nhà trọ của Đào Văn Sanh E và Vo VQ, để rủ Sanh E và VQ cung đi hô trơ đánh nhau. Lúc này, tại đây có Kha (bạn của T2 không ro nhân thân lai lịch), sau đó T2, Sanh E, VQ và K cung đi hô trơ đánh nhau.

Khoảng 11 giơ 00 phút ngày 16/8/2020, Vũ Bảo (không ro nhân thân lai lịch) đến phòng trọ của Phan Nhựt N rủ N đến quán cà phê “Tuyết Anh”, khi đến quán thì găp nhiều ngươi khác có măt tại đây, N hoi nhóm của C tập trung đi đâu thì mới biết tập trung đi đánh nhau, N đồng ý tham gia.

Khoảng 14 giơ 30 phút ngày 16/8/2020, có đối tương tên “Gà” (chưa xác định nhân thân lai lịch) gọi điện thoại cho Trần Văn N2 nói Chung đi đánh nhau, đụng chuyện và nhơ N2 đến hô trơ, thì N2 đồng ý.

Ngày 16/8/2020, Lực (chưa ro nhân thân lai lịch) gọi điện thoại cho Phạm Văn Nghi nói Nguyễn Văn C găp chuyện cần giúp. Lúc này, Nghi đang ở gần quán Hồ Sông Biển thuộc xa An Tây, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy bạn của L đang ở đây nên nhơ chở đến quán cà phê gần Trương học Phú An thuộc xa Phú An, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Tại quán cà phê Nghi ngồi chung với Trần Văn H, Trần Văn Đ, Trần Văn Ph và Huỳnh Minh T3 và biết là tập trung đi giúp C thì Nghi biết là tập trung đi đánh nhau nên đồng ý.

Đến khoảng 15 giơ 00 phút ngày 16/8/2020, sau khi tập hơp đủ ngươi, phương tiện và hung khí thì tất cả bắt đầu lên xe đi như sau:

Xe ô tô 05 chô biển số 61A – 310.90 do Nguyễn Trung H điều khiển chở: Nguyễn Văn C, Phan Nhựt N, Vũ Bảo (chưa ro lai lịch), Phong trọc (chưa ro nhân thân lai lịch) trên xe ô tô có để một số hung khí gồm: 01 gậy kim loại, hình tròn (gậy ba khúc) của N do N tự chuẩn bị; 01 cây rựa có cán bằn gô, lưỡi bằng kim loại (theo lơi khai của Phan Nhựt N là của Vũ Bảo) và 01 dao tự chế có cán màu đen, lưỡi bằng kim loại (không ro của ai chuẩn bị và mang theo).

Xe ô tô 07 chô biển số 61A – 752.03 do Nguyễn Hoàng B điều khiển chở: Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Đình D, Nguyễn Tấn Ng, Thái Minh T, Đông (chưa ro nhân thân lai lịch). Khi đi đánh nhau thì L tự chuẩn bị và mang theo 01 gậy sắt (gậy ba khúc), 01 gậy điện, còn D tự chuẩn bị và mang theo 01 gậy sắt (gậy ba khúc), 01 bình xịt hơi cay. L đưa cho T 01 gậy điện, D đưa bình xịt hơi cay cho Đông, Đông đưa lại cho L bình xịt hơi cay nên L đưa lại cho Đông 01 gậy sắt (gậy ba khúc) còn Ng không mang theo gì.

Xe ô tô taxi 07 chô biển số 51A – 778.37 do Hoàng Thanh T điều khiển chở: Trần Văn Đ, Nguyễn Phương Q1, Lê Đình H1, Huỳnh Minh T3, Tô Văn Kh, Nguyễn Minh L, Đoàn Quốc K, Lê Văn T. Khi đi Đ cầm theo 01 con dao tự chế (dao mèo) còn lại Q1, H1, T3, L, Kh và T không mang theo gì.

Xe ô tô 16 chô biển số 61B – 031.38 do Ngô Huỳnh Ph điều khiển chở: Nguyễn Hoàng S, Trần Văn H, Tống Văn Ngh, Huỳnh Hải N, Đinh Trần Trung H2, Vo Văn Qu, Vo Ngọc Q, Trần Văn P, Nguyễn Chí Q1, Đào Văn Sanh E, Nguyễn Tuấn X, Trần Văn K, Nguyễn Ngọc H, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Văn N1, Trần Văn N2, Phạm Văn Nghi, Giang (chưa ro nhân thân lai lịch), Đào Văn S, Linh (chưa ro nhân thân lai lịch), Nghia nho (chưa ro nhân thân lai lịch), Kha (bạn T2 chưa ro nhân thân lai lịch). Khi đi thì có một đối tương (không xác định) đưa cho S 01 gậy sắt (gậy ba khúc) rồi S đưa gậy sắt (gậy ba khúc) cho X, H cầm 01 dao tự chế lấy dưới hàng ghế sau trên xe nhưng không ro của ai cung cấp. Giang cầm 01 dao tự chế. Còn lại Tống Văn Ngh, Huỳnh Hải N, Đinh Trần Trung H2, Vo Văn Qu, Vo Ngọc Q, Trần Văn P, Nguyễn Chí Qu, Đào Văn Sanh E, Trần Văn K, Nguyễn Ngọc H, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Văn N1, Trần Văn N2, Phạm Văn Nghi không mang theo gì. Còn các đối tương chưa ro có mang theo hung khí hay không do chưa làm việc đươc gồm: Đào Văn Sanh, Nghia nho, Kha, Linh.

Phan Thành R điều khiển xe mô tô biển số 61G1- 739.49 chở Nguyễn Văn V, khi đi V cầm theo 01 gậy sắt (gậy ba khúc) còn R không cầm theo gì.

Phan Thành Th điều khiển xe mô tô biển số 61G1 – 481.60 chở Nguyễn Duy K, K và Th không mang theo gì.

Phung Quốc V mươn của Nguyễn Văn C 01 xe mô tô biển số 61H1 – 0881, rồi điều khiển đi một mình, khi đi V không mang theo gì.

Khi đến ấp Kiến An, xa An Lập, huyện Dầu Tiếng thì các xe ô tô và mô tô đậu ngoài đương nhựa, các đối tương xuống xe đi vào nhà trọ Thành Lộc do ông Thạch Thành L làm chủ (nhà trọ Thành Lộc cạnh Công ty YuHong) đây là khu vực đông dân cư. Khi đi vào trong day trọ các đối tương cầm hung khí gồm có: Nguyễn Đình D và Nguyễn Văn V cầm gậy sắt (gậy ba khúc), Trần Văn H, Giang (chưa ro nhân thân lai lịch) và Trần Văn Đ cầm dao tự chế, Nguyễn Duy K, Nguyễn Chí Qu, Đô Đạt Quốc T2, Đào Văn Sanh E và Nguyễn Hoàng S cầm đá lươm ngoài đương nhựa, (còn S sau khi lươm đá cầm trên tay khi đi vào nhà trọ thì S đa ném đi nên khi vào trong nhà trọ không cầm hung khí gì). Còn đối tương gồm: Thái Minh T cầm gậy điện, Nguyễn Hoàng L cầm bình xịt hơi cay, Phan Nhựt N cầm gậy sắt, Lê Văn T cầm đá thì chỉ đứng ngoài đương nhựa không đi vào nhà trọ khi xảy ra đánh nhau sẽ tiếp ứng hô trơ. Ngoài ra, do nhiều đối tương vào day nhà trọ tìm đối tương đánh Nguyễn Văn Vưng nên có nhiều đối tương không đi vào chỉ đứng phía trước nhà trọ Thành Lộc và ngoài đương nhựa hoăc ngồi trên xe dự định tiếp ứng hô trơ gồm có: Nguyễn Văn C, Phan Thành Th, Nguyễn Trung H, Phan Thành R, Vo Văn Qu, Trần Văn Kh, Tống Văn Ngh, Nguyễn Tuấn X, Huỳnh Văn N1, Lê Đình H1, Nguyễn Phương Q1, Nguyễn Tấn Ng, Phung Quốc V, Hoàng Thanh T, Ngô Huỳnh Ph, Nguyễn Hoàng B, Trần Văn N2, Phạm Văn Nghi.

Khi đi vào trong day nhà trọ, các bị cáo nhìn thấy có nhóm ngươi gồm có: Vo Văn P, Nguyễn Hưu S, Vo Hoàng Q, Trương Văn S, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Sang E, Nguyễn Văn P đang nhậu tại khu vực gần phòng trọ số 11. Lúc này, Nguyễn Văn V hoi nhưng ngươi đang nhậu có biết Trương Văn Thư đang ở đâu, nhưng nhưng ngươi đang nhậu tại đây nói không biết, thì các bị cáo gồm có: Trần Văn P dung tay đánh trúng một ngươi đang nhậu và tiếp tục dung tay đập phá bàn nhậu; Đô Đạt Quốc T2 thì cầm 02 cục đá ném trúng hai ngươi đang ngồi nhậu; Huỳnh Minh T3 thì lấy 01 cái ghế nhựa tại đây đập phá bàn nhậu. Lúc này Nguyễn Văn P đang đứng nghe điện thoại tại phòng số 11 thì các bị cáo nghi là P đang gọi cho ngươi khác đến hô trơ nên Trần Văn H có cầm 01 dao tự chế chém vào tay P nhưng P tránh đươc, thấy vậy Giang (chưa ro nhân thân lai lịch) cầm 01 dao tự chế đứng phía sau H lao tới chém trúng vào tay phải của P gây thương tích, sau khi thấy P bị chém gây thương tích thì tất cả các đối tương rút ra xe đi về.

Khi về thì tất cả lên xe như đa đi ban đầu để về, riêng Trần Văn H thì lên xe ô tô taxi biển số 51A – 778.37 để về, quá trình chạy về thì xe ô tô 05 chô biển số 61A – 310.90 do Nguyễn Trung Hiếu điều khiển chở các đối tương gồm: Nguyễn Văn C, Phan Nhựt N, Vũ Bảo (chưa ro nhân thân lai lịch), Phong trọc (chưa ro nhân thân lai lịch) bị hư lốp xe thì lúc này xe ô tô 07 chô biển số 61A – 752.03 do Nguyễn Hoàng B điều khiển vừa đến đậu lại thì có đối tương (chưa ro) lấy số hung khí gồm: 01 cây rựa, 01 dao tự chế, 01 gậy sắt (gậy ba khúc) để qua xe ô tô 61A – 752.03. Khi về đến quán cà phê “Tuyết Anh” thì Thái Minh T điện thoại cho Hà Thanh Tú, sinh năm 1995, nơi cư trú: ấp Phụng Lơi, thị trấn Thạnh An, huyện Vinh Thạnh, thành phố Cần Thơ nhơ cất giư số hung khí nói trên thì Tú đồng ý. Sau đó, Nguyễn Tấn Ng đem đến gửi tại phòng trọ của Hà Thanh Tú. Đến ngày 25/10/2020 thì Phan Nhựt N đem số hung khí nói trên đến gửi tại phòng trọ của Nguyễn Văn B, sinh năm 1998, nơi cư trú: ấp Thạnh Lơi, xa Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Khi Hoàng Thanh T điều khiển xe ô tô biển số 51A – 778.37 chở các bị cáo từ ấp Kiến An, xa An Lập, huyện Dầu Tiếng về thì bị 02 xe mô tô đuôi theo đến một lô cao su thuộc xa An Tây, thị xa Bến Cát thì Tung dừng xe ô tô lại các bị cáo trên xe bo chạy vào lô cao su, Lúc này Công an xa An Tây có măt tại đây và đưa T và phương tiện về Công an xa để làm việc.

Nguyễn Văn P sau khi bị Giang dung dao chém gây thương tích thì đươc đưa đến Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh điều trị.

Tại giấy chứng nhận thương tích số 1354/CN ngày 29/09/2020 của Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện thương tích của Nguyễn Văn P đươc chẩn đoán: Vết thương đứt gần lìa đốt giưa ngón IV + Gay hở chom đốt giưa, đứt gân duôi ngón III, vết thương đốt gần đứt gân duôi ngón V tay (P).

Ngày 18/8/2020, Nguyễn Văn P có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và giám định thương tích.

Ngày 05/9/2020, sau khi các bị cáo cung góp tiền đưa cho C thì C đa bồi thương cho Nguyễn Văn P số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).

Ngày 28/10/2020, Nguyễn Văn P có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và từ chối giám định thương tích đề ngày 18/8/2020.

Ngày 17/8/2020, Ban lanh đạo ấp Kiến An, xa An Lập, huyện Dầu Tiếng có đơn kiến nghị yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng xử lý các đối tương gây rối trật tự công cộng tại ấp Kiến An, xa An Lập, huyện Dầu Tiếng vào ngày 16/8/2020 trước pháp luật.

Sau khi vụ việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đa tiến hành điều tra, xác minh và thu giư các loại hung khí như sau:

Ngày 16/8/2020, quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra thì Hoàng Thanh Tung đa giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra 01 dao kim loại, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại màu đen trắng xanh, bị cong mũi.

Ngày 30/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành làm việc với Nguyễn Đình D thu giư các hung khí gồm: 01 bình xịt bằng kim loại, màu xanh, nắp nhựa màu đen, nhan hiệu Nato, 01 gậy kim loại có cán bọc nhựa màu đen (gậy ba khúc), 01 căp da màu nâu.

Ngày 30/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành làm việc với Nguyễn Hoàng L, thu giư các hung khí gồm: 01 gậy bắn điện, màu đen, không nhan hiệu, vo nhựa; 01 gậy kim loại hình trụ tròn, cán bọc nhựa màu đen (gậy ba khúc).

Ngày 05/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra đa tiến hành làm việc với Nguyễn Văn B và thu giư số hung khí mà Phan Nhựt N gửi gồm: 01 gậy bằng kim loại, hình trụ tròn, cán bọc nhựa màu đen (gậy ba khúc); 01 cây rựa có cán bằng gô dài 38 cm, lưỡi bằng kim loại dài 40 cm; 01 dao tự chế có cán màu đen dài khoảng 29 cm, lưỡi bằng kim loại dài 50 cm.

Ngày 09/11/2020, Nguyễn Văn C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đầu thú.

Ngày 02/5/2021, Nguyễn Minh L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đầu thú.

Ngày 10/5/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng có yêu cầu định giá số 268/YC về tài sản bị các đối tương đập phá gây hư hong gồm: 02 bàn nhựa màu đo, dạng hình chư nhật, có kích thước dài 80cm, rộng 60cm, cao 50cm bị gay đa qua sử dụng; 01 ghế nhựa màu đo bị gay đa qua sử dụng.

Kết luận định giá số 20/KL-HĐĐG ngày 22/5/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Dầu Tiếng thì tông thiệt hại tài sản 02 bàn nhựa màu đo, dạng hình chư nhật, có kích thước dài 80cm, rộng 60cm, cao 50cm bị gay đa qua sử dụng; 01 ghế nhựa màu đo bị gay đa qua sử dụng là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Ngày 02/8/2021, Trần Văn N2 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đầu thú.

Ngày 21/9/2021, Hoàng Thanh T giao nộp cho Cơ quan CSĐT số tiền 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng), đây là số tiền các bị cáo trả tiền thuê xe ô tô cho Hoàng Thanh Tung.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Phan Thành R, Nguyễn Đình D, Phan Thành Th, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Trần Văn K, Vo Ngọc Q, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn P, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Tống Văn Ngh, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Phung Quốc V, Huỳnh Văn N1, Tô Văn Kh, Nguyễn Minh L, Trần Văn N2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phan Thành Th 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Phan Thành R 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Phung Quốc V 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N1 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Vo Ngọc Q 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Văn N2 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Qu 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Ha 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Đô Đạt Quốc T2 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Ph 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T3 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Tô Văn Kh 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lê Đình H1 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Hải N 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Tống Văn Ngh 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Ngu 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Đinh Trần Trung H2 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương Q1 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Kh 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 năm 02 tháng tu; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 02 năm 02 tháng tu; xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 02 năm 02 tháng tu; xử phạt bị cáo Thái Minh T 02 năm 02 tháng tu; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 02 năm 02 tháng tu; xử phạt bị cáo Đào Văn Sanh E 02 năm 02 tháng tu; xử phạt bị cáo Vo Văn Q 02 năm 02 tháng tu; xử phạt bị cáo Phạm Văn Nghi 02 năm 02 tháng tu; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 02 năm tu; xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn X 02 năm tu; xử phạt bị cáo Phan Nhật N 02 năm tu; xử phạt bị cáo Hoàng Thanh Tu 02 năm tu nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng B 02 năm tu nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 02 năm tu nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Ngô Huỳnh P 02 năm tu nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Đoàn Quốc K 01 năm 06 tháng tu nhưng cho hưởng án treo; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Ngày 13/5/2022, bị cáo Nguyễn Minh L kháng cáo xin đươc hưởng án treo.

Ngày 16/5/2022, bị cáo Phan Thành Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đươc hưởng án treo.

Ngày 16/5/2022, bị cáo Trần Văn K kháng cáo xin đươc hưởng án treo.

Ngày 17/5/2022, bị cáo Lê Văn T kháng cáo xin đươc hưởng án treo.

Ngày 18/5/2022, bị cáo Nguyễn Đình D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đươc hưởng án treo.

Ngày 18/5/2022, các bị cáo Phan Thành R, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn H, Lê Đình H1, Đinh Trần Trung H2, Trần Văn Đ, Huỳnh Văn N1, Nguyễn Phương Q1, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn N2 kháng cáo xin đươc hưởng án treo.

Ngày 19/5/2022, bị cáo Huỳnh Minh T3, Huỳnh Hải N, Trần Văn P, Đô Đạt Quốc T2, Tô Văn Kh, Tống Văn Ngh kháng cáo xin đươc hưởng án treo.

Ngày 19/5/2022, bị cáo Vo Ngọc Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đươc hưởng án treo.

Ngày 25/5/2022, bị cáo Nguyễn Tấn Ngu, Phung Quốc V kháng cáo xin đươc hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án:

Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý và đưa vụ án ra xét xử theo trình tự phúc thẩm là đúng theo quy định tại các Điều 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm xác định, do vậy, có căn cứ xác định tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng quy định, vụ án có nhiều ngươi tham gia nhưng mang tính đồng phạm giản đơn.

Đối với nhóm các bị cáo Phan Thành R, Phan Thành Th, Tống Văn Ngh, Đinh Trần Trung H2, Phung Quốc V, Huỳnh Văn N1 và Tô Văn Kh, các bị cáo này có hành vi là lôi kéo các bị cáo khác tham gia cung Nguyễn Văn V tìm đánh ông Trương Văn Thu; khi tham gia thì có thái độ hung hăng, quyết liệt. Măc du khi đến hiện trương gây án thì các bị cáo này không trực tiếp dung hung khí và không tham đánh hay phá phách gì. Bản thân các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm có thái độ thành khẩn khai báo, chưa có tiền án, tiền sự, nhưng xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành động phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên giư nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST, ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng về phần hình phạt đối với các bị cáo Phan Thành R, Phan Thành Th, Tống Văn Ngh, Đinh Trần Trung H1, Phung Quốc V, Huỳnh Văn N1 và Tô Văn Kh.

Đối với các bị cáo Trần Văn K, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Nguyễn Minh L, Trần Văn N2 và Nguyễn Phương Q1, Viện kiểm sát nhận thấy: Tuy hành vi của các bị cáo dừng lại ở việc đươc các bị cáo khác lôi kéo và cung đi đến hiện trương. Khi đến hiện trương gây án thì các bị cáo này không có bất kỳ hành vi nào, không dung hung khí nào ngoài việc đứng ngoài khu trọ và sẵn sàng tham gia đánh nhau nên cần xử lý nghiêm. Riêng đối với bị cáo Trần Văn K và bị cáo Nguyễn Minh L thực hiện hành vi phạm tội có tính chất, mức độ hành vi phạm tội thấp nhất, không thực hiện hành vi gì nên đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST, ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng về phần hình phạt, tuyên phạt bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Minh L môi bị cáo 02 năm tu nhưng cho hưởng án treo, thơi gian thử thách 04 năm.

Giư nguyên hình phạt đối với các bị cáo Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Trần Văn N2 và Nguyễn Phương Q1.

Bị cáo Vo Ngọc Q có đi đến hiện trương, măc du không có bất kỳ hành vi gì nhưng bị cáo có nhân xấu nên đề nghị không chấp chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q.

Các bị cáo không tụ bào chưa, không tham gia tranh luận, trong lơi nói sau cung, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đươc hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đa đươc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử sơ thẩm đa thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, ngươi tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoăc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngươi tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngươi tiến hành tố tụng đa thực hiện đều hơp pháp, đúng quy định; các bị cáo kháng cáo trong thơi hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo Nguyễn Tấn Ng bo trốn và đa có quyết định truy na nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng măt bị cáo.

Về nội dung: khoảng 15 giơ 30 phút ngày 16/8/2020, Nguyễn Văn C cung với Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Đình D, Thái Minh T, Phan Nhựt N, Phan Thành Th, Phan Thành R, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn H, Trần Văn Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn Duy K, Nguyễn Trung H, Vo Văn Q, Trần Văn K, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Vo Ngọc Q, Nguyễn Tuấn X, Tống Văn Ngh, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Đoàn Quốc Kh, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Đào Văn Sanh E, Nguyễn Phương Q1, Tô Văn Kh, Phung Quốc V, Nguyễn Ngọc H, Huỳnh Văn N1, Hoàng Thanh T, Nguyễn Hoàng B, Ngô Huỳnh P, Nguyễn Minh L, Trần Văn N2, Phạm Văn Nghi tụ tập thành đám đông chuẩn bị hung khí, sử dụng nhiều phương tiện (ô tô, mô tô) để di chuyển thành đoàn đến khu vực đông dân cư thuộc ấp Kiến An, xa An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương với mục đích giải quyết mâu thuẫn cá nhân và gây thương tích cho ngươi khác, gây rối trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xa hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân tại nơi xảy ra vụ việc.

Hành vi của các bị cáo Phan Thành R, Nguyễn Đình D, Phan Thành Th, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Trần Văn Kh, Vo Ngọc Q, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Tống Văn Ngh, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Phung Quốc V, Huỳnh Văn N1, Tô Văn Kh, Nguyễn Minh L, Trần Văn N2 và các bị cáo khác đa thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đa thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Thành R, Nguyễn Đình D, Phan Thành Th, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Trần Văn Kh, Vo Ngọc Q, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Tống Văn Ngh, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Phung Quốc V, Huỳnh Văn N1, Tô Văn Kh, Nguyễn Minh L, Trần Văn N2 và các bị cáo khác về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Đối với kháng cáo xin đươc hưởng án treo của bị cáo Trần Văn Ph, măc du khi tham gia rây rối, Ph không trực tiếp cầm hung khí tham gia nhưng khi đươc Tuấn Anh gọi tham gia đánh nhau thì Ph là ngươi tích cực tham gia và đa rủ rê rất nhiều ngươi cung tham gia, gồm: H, Đ, T titan, S, N1, Kh, N, H2, Q1, K, T, N, G…Măt khác, bị cáo có nhân thân xấu, đa từng bị Công an huyện Vinh Thạnh, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khoe của ngươi khác nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo Ph đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin đươc hưởng án treo của bị cáo Trần Văn H, khi đươc rủ tham gia đánh nhau thì H rủ thêm nhiều đối tương khác cung tham gia, bản thân H khi tham gia gây rối đa sử dụng dao chém vào cánh cửa hai nhát và chém một nhát trúng ông Ph, xét hành vi của bị cáo H là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo H đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin đươc hưởng án treo của bị cáo Trần Văn Đ, khi đươc Ph rủ tham gia đánh nhau giúp C thì Đ tích cực hưởng ứng và cầm theo dao mèo đi vào trong khu nhà trọ để gây rối, xét hành vi của bị cáo Đ là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo Đ đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin đươc hưởng án treo của bị cáo Đô Đạt Quốc T2, khi có ngươi rủ tham gia đánh nhau giúp C thì T2 tích cực hưởng ứng và rủ thêm Đào Văn Sanh E, Vo Văn Q tham gia, khi đến hiện trương T2 cầm theo hai cục đá ném vào bàn nhậu trong khu trọ rồi chạy ra ngoài, xét hành vi của bị cáo T2 là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo T2 đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin đươc hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Minh T3, khi đươc rủ tham gia đánh nhau thì T3 nhiệt tình cung tham gia, bản thân T3 khi tham gia gây rối đa sử dụng đá chọi vào đám đông và đập vào bàn gây náo loạn, xét hành vi của bị cáo T3 là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo T3 đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin đươc hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Tấn Ng, sau khi các bị cáo thực hiện hành vi bị cáo Ng là ngươi đưa hung khí đi cất giấu nhằm che giấu tội phạm, xét hành vi của bị cáo Ng là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo Ng đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin đươc hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hoàng S, khi có ngươi rủ đi đánh nhau, S tích cực hưởng ứng và mang theo cây gậy 3 khúc nhưng trên đương đi S không sử dụng mà đưa lại cho X, khi đến hiện trương S có cầm hai cục đá để sẵn sàng đánh nhau, xét hành vi của bị cáo S là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo S đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí Qu, khi Kh rủ Qu đi đánh nhau thì Qu đồng ý và rủ thêm Huỳnh Hải N, khi đi đến nơi Qu cầm 02 cục đá đi vào khu nhà trọ để sẵn sàn đánh nhau, nhưng khi đến công thì thấy mọi ngươi ra về nên Qu vứt hai cục đá, xét hành vi của bị cáo Qu là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo Qu đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Nguyễn Đình D, khi đươc K gọi điện rủ D đến xa An Lập hô trơ đánh nhau dằn măt ngươi đa đánh V thì D đồng ý và mang theo bình xịt hơi cay, bình xịt này do D mua, nhưng khi đến An Lập thì đưa bình xịt cho L, măc du không trực tiếp tham gia đánh nhau nhưng bị cáo D chuẩn bị công cụ phạm tội và sẵn sàng tham gia đánh nhau, xét hành vi của bị cáo D là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo D đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Đinh Trần Trung H2, khi đươc Tuấn Anh rủ ra quán cà phê bàn chuyện đi đánh nhau thì H2 đồng ý và rủ thêm Trần Văn H, Đoàn Quốc Kh tham gia, măc du khi đi H2 không mang theo hung khí gì và không trực tiếp tham gia đánh nhau, nhưng hô trơ về tinh thần cho các bị cáo khác, hành vi của bị cáo H2 là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo H2 đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Lê Văn T, khi đươc N1 rủ đi An Lập tham gia đánh nhau thì T đồng ý, khi đến nơi T cầm hai cục đá đứng đơi sẵn sàng đánh nhau, xét hành vi của bị cáo T là nghiêm trọng nên không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo T đươc hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Nguyễn Phương Q1, khi đươc H1 rủ đi đánh nhau, Q1 đồng ý và lên xe 16 chô, khi đến nơi Q1 đứng ngoài cảnh giới cho các bị cáo vào khu nhà trọ gây rối, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tu là phu hơp, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Q1.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Lê Đình H1, khi đươc rủ đi đánh nhau, H1 đồng ý. Măc du bị cáo không tham gia đánh nhau nhưng hành vi của bị cáo hô trơ về măt tinh thần cho các bị cáo khác, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tu là phu hơp, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo H1.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Huỳnh Hải N, khi đươc Qu rủ đi đánh nhau, N đồng ý. Măc du bị cáo không tham gia đánh nhau nhưng hành vi của bị cáo hô trơ về măt tinh thần cho các bị cáo khác, bị cáo có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ là đa hoàn thành nghia vụ quân sự, đươc Trung đoàn trưởng Trung đoàn 152, Quân khu 9 tăng Giấy khen nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tu là phu hơp nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo N.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Vo Ngọc Q, khi Nghia rủ Q đi uống cà phê, tại quán cà phê “Tuyết Anh” thì C rủ đi đánh nhau, Q đồng đi theo nhưng không mang theo gì và đứng ở ngoài đương không tham gia đánh nhau; tuy nhiên, ngày 11/9/2001, bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên phạt 03 năm tu về tội “Tô chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2001/HS-ST. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tu là phu hơp, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Q.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Phung Quốc V, khi đươc L rủ V rủ đi giúp V giải quyết mâu thuẫn, thì V cung tham gia bàn bạc, rồi cung đi đến xa An Lập. Măc du V không mang theo hung khí gì và đứng ngoài đương không tham gia đánh nhau, bản thân V có tham gia Câu lạc bộ phòng chống tội phạm xa Phú An, thị xa Bến Cát nhưng không ý thức đươc công việc của mình mà lại cố ý phạm tội nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo V.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Phan Thành R, tại quán cà phê “Tuyết Anh” khi nhóm của C bàn bạc việc đi An Lập giải quyết mâu thuẫn, R có măt nhưng không tham gia bàn bạc, khi đươc L rủ đi đánh nhau, R đồng ý nhưng không đi chung xe ô tô mà đi xe máy chở V, khi đi R không mang theo gì và đứng ở ngoài đương không tham gia đánh nhau, bị cáo có cha ruột là Phan Thành R là ngươi có công với Nhà nước nên xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Phan Thành Th, do V là bạn của Th nên khi V bị đánh thì Th và một số ngươi khác tìm ngươi đánh V để hòa giải cho V đi làm nhưng không găp nên ngày 16/8/2020 Th và một số ngươi uống cà phê bàn chuyện đánh dằn măt. Măc du không trực tiếp tham gia đánh nhau và bị cáo cung cấp tình tiết có cha ruột là Phan Thành Ruy là ngươi có công với Nhà nước, tuy nhiên bị cáo có vai trò là ngươi bàn bạc, khởi xướng, tham gia trong vụ án tích cực, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 02 tháng tu là phu hơp nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Th.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Huỳnh Văn N, khi đươc C và Lê Đình H rủ đi đánh nhau thì N1 đồng ý nhưng khi lên xe ô tô thì do say rươu nên N1 ngủ trên xe, không tham gia đánh nhau, không tham gia gây rối, khi tỉnh dậy thì mới biết xe ô tô đa chở về lại quán cà phê “Tuyết Anh”. Măc du bị cáo có tham gia nhóm gây rối nhưng bị cáo không thực hiện bất kỳ hành vi gì, bị cáo có nhân thân tốt nên xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Trần Văn N2, khi có ngươi rủ đi đánh nhau, N2 đồng ý và lên xe 16 chô, khi đi N2 không mang theo gì và ngồi trên xe không tham gia đánh nhau, sau đó N2 ra đầu thú, bị cáo có nhân thân tốt tham gia vụ án với vai trò không đáng kể nên xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Tống Văn Ngh, bị cáo Ngh có hành vi giúp bị cáo C thuê xe ô tô chở ngươi đi đánh nhau, bị cáo không trực tiếp tham gia đánh nhau, không tham gia gây rối. Bị cáo có ông nội là Tống Văn C tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước đươc tăng thưởng nhiều Huân chương, xét bị cáo tham gia với vai trò không đáng kể nên xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Trần Văn K, khi đươc N1 rủ đi đánh nhau, K đồng ý, khi đi K không mang theo gì, xét bị cáo tham gia với vai trò không đáng kể nên xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo K.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Nguyễn Minh L, khi đươc Lâm rủ đi An Lập tham gia đánh nhau thì L đồng ý, L không mang theo hung khí gì và đứng ngoài đương không tham gia đánh nhau, sau đó L ra đầu thú, xét bị cáo tham gia với vai trò không đáng kể nên xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Xét các bị cáo Huỳnh Văn N, Trần Văn N2, Tống Văn Ngh, Trần Văn K, Nguyễn Minh L thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thứ yếu, không trực tiếp tham gia gây rối, các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có địa chỉ cư trú ro ràng, phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo và việc không cách ly các bị cáo N1, N2, Ngh, K, L ra ngoài xa hội không gây nguy hiểm nên áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo N1, N2, Ngh, K, L đươc hưởng án treo, tạo điều kiện để các bị cáo tự cải tạo, học tập, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục theo quy định pháp luật.

Bị cáo Phan Thành R sau khi phạm tội thể hiện thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, bị cáo có cha là ngươi có công với Nhà nước, hiện bị cáo có việc làm ôn định, có địa chỉ cư trú ro ràng, có khả năng tự cải tạo và việc không cách ly bị cáo ra ngoài xa hội không gây nguy hiểm nên áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Ril đươc hưởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo tự cải tạo, học tập, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục theo quy định pháp luật.

Các bị cáo Phung Quốc V, Nguyễn Đình D, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Đô Đạt Quốc T2, Phan Thành Th và Huỳnh Minh T3 tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò tích cực nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

Các bị cáo Vo Ngọc Q, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Tô Văn Kh măc du không trực tiếp tham gia đánh nhau nhưng hô trơ về tinh thần và sẵn sàng tham gia đánh nhau nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo Phan Thành Th, Nguyễn Đình D, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Vo Ngọc Q, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Tô Văn Kh, Trần Văn K, Nguyễn Minh L, Phung Quốc V là phu hơp với hành vi các bị cáo đa thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Quan điểm giải quyết đối với các bị cáo Phan Thành R, Huỳnh Văn N1, Trần Văn N2, Tống Văn Ngh là không phu hơp nên không chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đa có hiệu lực pháp luật.

Án phí phúc thẩm: kháng cáo của các bị cáo Phan Thành Th, Nguyễn Đình D, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Vo Ngọc Q, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Tô Văn Kh, Phung Quốc V không đươc chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật; kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Văn N1, Trần Văn N2, Tống Văn Ngh, Trần Văn K, Nguyễn Minh L, Phan Thành R đươc chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phung Quốc V, Nguyễn Đình D, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Vo Ngọc Q, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Tô Văn Kh, Phan Thành Th.

Giư nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương về phần hình phạt đối với các bị cáo Phung Quốc V, Nguyễn Đình D, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Vo Ngọc Q, Lê Đình H1, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Tô Văn Kh, Phan Thành Th, như sau:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phan Thành Th 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Phung Quốc V 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Vo Ngọc Q 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Hải N 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Q 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Đô Đạt Quốc T2 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Ph 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T3 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Tô Văn Kh 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lê Đình H1 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Ng 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Đinh Trần Trung H2 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương Q1 02 (hai) năm tu. Thơi hạn tu đươc tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Văn N1, Trần Văn N2, Tống Văn Ngh, Trần Văn K, Nguyễn Minh L, Phan Thành R.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương về phần hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Văn N1, Trần Văn N2, Tống Văn Ngh, Trần Văn K, Nguyễn Minh L, Phan Thành R.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

- Xử phạt bị cáo Phan Thành R 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tu nhưng cho hưởng án treo, thơi gian thử thách là 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 23/3/2023. Giao bị cáo R cho Ủy ban nhân dân xa Phú An, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thơi gian thử thách. Trương hơp ngươi đươc hưởng án treo thay đôi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân xa Phú An phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn N2 02 (hai) năm tu nhưng cho hưởng án treo, thơi gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 23/3/2023.

- Xử phạt bị cáo Tống Văn Ngh 02 (hai) năm tu nhưng cho hưởng án treo, thơi gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 23/3/2023.

Giao các bị cáo Trần Văn N2, Tống Văn Ngh cho Ủy ban nhân dân xa An Tây, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thơi gian thử thách. Trương hơp ngươi đươc hưởng án treo thay đôi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân xa An Tây phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thơi gian thử thách, ngươi đươc hưởng án treo cố ý vi phạm nghia vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngươi đươc hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tu của bản án đa cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn K 02 (hai) năm tu nhưng cho hưởng án treo, thơi gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 23/3/2023.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 02 (hai) năm tu nhưng cho hưởng án treo, thơi gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 23/3/2023.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N1 02 (hai) năm tu, nhưng cho hưởng án treo, thơi gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 23/3/2023.

Giao các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Minh L, Huỳnh Văn N1 cho Ủy ban nhân dân xa An Tây, thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thơi gian thử thách. Trương hơp ngươi đươc hưởng án treo thay đôi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân xa An Tây phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự thị xa Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thơi gian thử thách, ngươi đươc hưởng án treo cố ý vi phạm nghia vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngươi đươc hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tu của bản án đa cho hưởng án treo.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Phung Quốc V, Nguyễn Đình D, Nguyễn Hoàng S, Trần Văn Đ, Trần Văn H, Lê Văn T, Nguyễn Chí Qu, Trần Văn Ph, Đô Đạt Quốc T2, Huỳnh Minh T3, Vo Ngọc Q, Lê Đình H, Huỳnh Hải N, Nguyễn Tấn Ng, Đinh Trần Trung H2, Nguyễn Phương Q1, Tô Văn Kh, Phan Thành Th môi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo Huỳnh Văn N1, Trần Văn N2, Tống Văn Ngh, Trần Văn K, Nguyễn Minh L, Phan Thành R không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đa có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thơi hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ