- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con - Th - Ph"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Hồng Th đối với ông Phan Thanh Ph về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-5-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Phương
2. Ông Đinh Công Trường
- T ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 23/2023/TLST-HNGĐ ngày 21-02-2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐST – HNGĐ ngày 14-4- 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 24/2023/QĐST – HNGĐ ngày 05-5-2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị Hồng Th, sinh năm: 1992
Hộ khẩu Tờng trú: Tổ 4, khu phố N, phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Chỗ ở hiện nay: Số 308 T, thị trấn S, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
(có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Ông Phan Thanh Ph, sinh năm 1991
Địa chỉ: 39/1 đường H, khu phố N, phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Phan Thị Hồng Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Th xây dựng gia đình với ông Phan Thanh Ph vào năm 2016, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn P, huyện T (nay là phường P, thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào ngày 13-10-2016.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, ông Ph Tờng xuyên ăn nhậu không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng Tờng xuyên cãi vã, không hạnh phúc khi chung sống. Từ tháng 8/2021 đến nay bà Th đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại Kon Tum sinh sống, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến nhau.
Nay bà Th nhận thấy không còn tình cảm với ông Ph nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ph.
- Về con chung: Bà Th và ông Ph có 02 con chung là Phan Tiến Đ, sinh ngày 19-5-2017 và Phan Anh T, sinh ngày 27-8-2021. Hiện nay cháu Đ đang sống cùng ông Ph và ông bà nội, cháu T đang sống với bà Th. Bà Th có nguyện vọng giao cháu Đ cho ông Ph trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu T đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn ông Phan Thanh Ph trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Ph thống nhất về thời gian kết hôn như bà Th trình bày.
Ông Ph xác định vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn trong chuyện gia đình, công việc làm ăn dẫn đến vợ chồng xãy ra cãi vã. Trước tết năm 2022 ông Ph và bà Th mâu thuẫn cãi vã về nhiều vấn đề nên bà Th đã dẫn theo cháu T về nhà ngoại ở Kom Tum sinh sống, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân. Ông Ph đã lên Kom Tum tìm bà Th và mong bà Th quay về chung sống đoàn tụ nhưng bà Th không đồng ý. Nay bà Th yêu cầu ly hôn thì ông Ph không đồng ý vì ông còn yêu thương bà Th và mong muốn vợ chồng đoàn tụ.
- Về con chung: Ông Ph và bà Th có 02 con chung như bà Th trình bày. Hiện nay cháu Đ đang sống cùng với ông Ph, cháu T đang sống với bà Th. Ông Ph không đồng ý ly hôn nên không đồng ý với yêu cầu nuôi con của bà Th. Trường hợp bà Th nhất quyết ly hôn và Toà án giải quyết cho ông và bà Th ly hôn thì ông có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu Đ đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), giao cháu T cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ phát biểu quan điểm:
Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng thì thấy:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.
- Đối với nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Hồng Th đối với ông Phan Thanh Ph cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Hồng Th được ly hôn với ông Phan Thanh Ph.
Về con chung: Giao cháu Phan Tiến Đ, sinh ngày 19-5-2017 cho ông Ph trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), giao cháu Phan Anh T, sinh ngày 27-8-2021 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Th phải đóng án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, quan hệ pháp luật vụ án là: Tranh chấp ly hôn và nuôi con; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.
Bà Phan Thị Hồng Th có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Th.
Ông Phan Thanh Ph đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Ph.
Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp đã có đủ cơ sở xác định: Bà Phan Thị Hồng Th và ông Phan Thanh Ph tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào ngày 13-10-2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T (nay là phường P, thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp.
Xét về quan hệ hôn nhân của bà Th, ông Ph: Bà Th xác định vợ chồng chung sống nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Quá trình tố tụng bà Th vẫn nhất quyết yêu cầu được ly hôn với ông Ph.
Ông Ph xác định vợ chồng chung sống có mâu thuẫn nhưng không đồng ý ly hôn. Ông Ph mong muốn đoàn tụ gia đình với bà Th vì còn yêu thương bà Th, tuy nhiên ông Ph không tự hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Th được. Bà Th nhất quyết ly hôn với ông Ph, điều đó khẳng định bà Th hoàn toàn không còn tình cảm với ông Ph.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Th, ông Ph đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ được, áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Th đối với ông Ph.
Về con chung: Bà Th và ông Ph có 02 con chung là Phan Tiến Đ, sinh ngày 19-5-2017 và Phan Anh T, sinh ngày 27-8-2021.
Bà Th có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu T đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), giao cháu Đ cho ông Ph trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Ph cũng thống nhất trường hợp ly hôn thì ông đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ đến tuổi trưởng thành, giao cháu T cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng.
Xét thấy, sự thống nhất về người trực tiếp nuôi con của bà Th, ông Ph là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo sự phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần và điều kiện ổn định về chỗ ở, học tập của các con chung nên cần ghi nhận, cụ thể giao cháu Đ cho ông Ph trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), giao cháu T cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án không xem xét.
Về án phí: Bà Phan Thị Hồng Th phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Hồng Th đối với ông Phan Thanh Ph về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Hồng Th được ly hôn với ông Phan Thanh Ph.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Buộc bà Phan Thị Hồng Th giao cháu Phan Tiến Đ, sinh ngày 19-5-2017 cho ông Phan Thanh Ph trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Buộc ông Phan Thanh Ph giao cháu Phan Anh T, sinh ngày 27-8-2021 cho bà Phan Thị Hồng Th trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Phan Thị Hồng Th, ông Phan Thanh Ph được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Hồng Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006784 ngày 17-02-2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Phan Thị Hồng Th đã nộp đủ án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.
3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - UBND phường P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thu Hiền |