- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LH"
- Tòa quyết gì? Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-03-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Hưng và ông Nguyễn Xuân Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ngày 31 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 82/2023/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Xóm Phú Xuân, xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (có mặt)
- Bị đơn: Anh Lê Văn B, sinh năm 1993; nơi cư trú: Xóm Phú Xuân, xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn B đăng ký kết hôn vào ngày 02/02/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đô Thành, huyện Yên Thành. Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai, lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống H phúc đến năm 2018 thì xẩy ra mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân: Tính tình vợ chồng không hợp nhau, anh B nghiện ngập, lo ăn chơi, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con nên Chị đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng từ đầu năm 2019 đến nay. Sự việc xẩy ra đã được hai gia đình hòa giải nhưng không thành. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được Chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Chị và anh B có 02 con là Lê Nguyễn Khánh Ly, sinh ngày 13/10/2015 và Lê Nguyễn Trọng Duy, sinh ngày 10/10/2017. Hiện nay Chị đang nuôi dưỡng 02 con, Các con khỏe mạnh. Nếu ly hôn Chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi 02 con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại bản tự khai đề ngày 24 tháng 03 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Văn B trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn vào ngày 02/02/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đô Thành, huyện Yên Thành. Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai, lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống H phúc đến năm 2018 thì xẩy ra mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân: Lo ăn chơi, nghiện ngập, không quan tâm đến gia đình, vợ con; vợ chồng xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau nên chị H đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng từ đầu năm 2019 đến nay. Sự việc xẩy ra đã được hai gia đình hòa giải nhưng không thành. Tuy vợ chồng có mâu thuẫn và sống ly thân nhưng anh vẫn còn tình cảm với chị H nên anh không nhất trí ly hôn mà đoàn tụ vợ chồng để nuôi dạy các con.
- Về con chung: Anh và chị H có 02 con là Lê Nguyễn Khánh Ly, sinh ngày 13/10/2015 và Lê Nguyễn Trọng Duy, sinh ngày 10/10/2017. Hiện nay chị H đang nuôi dưỡng 02 con, Các con khỏe mạnh. Nếu ly hôn Anh có nguyện vọng giao 02 con cho chị H nuôi dưỡng.
- Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định. [1]Về tố tụng: Bị đơn anh Lê Văn B đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa nhưng bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: [2] Về Hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn B được Ủy ban nhân dân xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 22/2015 ngày 02 tháng 02 năm 2015, thủ tục, điều kiện kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, Vợ chồng sống H phúc đến năm 1018 thì xẩy ra mâu thuẫn cho đến nay, nguyên nhân: Anh B nghiện ngập, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con; vợ chồng xúc phạm nhau nên Chị đã đưa con về bên ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ vợ chồng từ năm 2019 đến nay. Ủy ban nhân dân xã Đô Thành đã xác nhận tình trạng hôn nhân và con chung của vợ chồng. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã vận động thuyết phục chị H rút đơn đoàn tụ gia đình nhưng chị H không chấp nhận. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị H đã thỏa mãn những căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đủ cơ sở chấp nhận cho ly hôn. [3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Lê Nguyễn Khánh Ly, sinh ngày 13/10/2015 và Lê Nguyễn Trọng Duy, sinh ngày 10/10/2017. Hiện nay chị H đang nuôi dưỡng 02 con. Các con khỏe mạnh. Chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay chị H đang nuôi 02 con và có nguyện vọng nuôi dưỡng 02 con, anh B có nguyện vọng giao chị H nuôi 02 con; cháu Ly có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy cần giao chị H tiếp tục nuôi dưỡng 02 con là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. [4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh B cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về chia tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị H, anh B không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. 1.Về Hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn B. 2.Về nuôi con: Giao 02 con là Lê Nguyễn Khánh Ly, sinh ngày 13/10/2015 và Lê Nguyễn Trọng Duy, sinh ngày 10/10/2017 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục, trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị H, anh B có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con trên cơ sở lợi ích của con. 3. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 ( Ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000630 ngày 13 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. 4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS huyện Yên Thành; - TAND tỉnh Nghệ An; - Cơ quan thực hiện việc đăng kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu kết quả; - Đương sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký ) Phan Xuân Thọ |