vanban.org

Bản án 36/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Trọng C.

Về án phí sơ thẩm ly hôn: Chị Bùi Thị T phải nộp là 300.000 đồng, đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002401, ngày 21/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên, chị T đã nộp đủ án phí. Về quyền kháng cáo của đương sự: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Trọng C được quyền khán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T xin ly hôn anh C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Trọng C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Ý YÊN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23 – 6 – 2023
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc Bích.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Định, ông Bùi Đức Hạnh.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.

Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23/6/2023, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2023/TLST- HNGĐ ngày 21/4/2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án xét xử số 87/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/6/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng C, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện Y, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Vắng mặt chị T, anh C (chị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; anh C vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Trọng C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Nam Định ngày 23/9/2009. Sau khi kết hôn, chị và anh C sống với nhau được khoảng 03 tháng thì giữa chị và anh C phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do anh C không quan tâm gì đến gia đình nên tự bản thân chị cảm thấy cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Chị chủ động về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, chị và anh C sống ly thân nhau đã lâu, chấm dứt quan hệ tình cảm. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh C không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng C.

Về con chung: Chị và anh C không có con chung.

Về tài sản chung các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, giấy triệu tập anh C đến làm việc nhưng anh C vắng mặt không lý do.

Tại Biên bản làm việc ngày 11/5/2023, Tòa án đã cùng với địa phương xã Yên Khánh làm việc với bà Nguyễn Thị H – mẹ đẻ của anh Nguyễn Trọng C cho biết: Anh C kết hôn với chị Tam tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Nam Định ngày 23/9/2009. Sau khi kết hôn, anh C, chị T chung sống với nhau được một thời gian ngắn (khoảng 1,5 tháng) thì chị T xin phép gia đình về Thanh Hóa quê chị T để làm thủ tục chuyển khẩu, nhưng từ đó đến nay chị T không quay lại gia đình bà nữa và anh chị sống ly thân, chấm dứt quan hệ từ đó đến nay đã được khoảng 13 năm. Quá trình Tòa án giải quyết theo đơn ly hôn của chị Tam, gia đình bà và anh C đã nhận được Thông báo thụ lý, giấy triệu tập đến Tòa án để giải quyết nhưng anh C bâ ̣n công viê ̣c nên không đến Tòa án làm việc. Về con chung: Anh C và chị T không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị T không có gì liên quan. Quan điểm của anh C và gia đình bà xác định hai anh chị sống ly thân nhau đã lâu, khả năng hàn gắn tình cảm là không có nên đồng ý ly hôn để tạo điều kiện giải thoát cho cả hai bên.

Địa phương xã K cho biết: Về thời gian, điều kiện kết hôn giữa anh C và chị T đúng như trình bày của gia đình. Quá trình chung sống giữa anh C và chị T mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không được rõ. Tuy nhiên, chị T không sinh sống tại địa phương xã K đã lâu. Về con chung: Anh C và chị T không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị T cụ thể thế nào địa phương không rõ. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện của chị Tam, địa phương đã tống đạt các văn bản tố tụng, giấy mời cho anh C, anh C và gia đình biết việc chị Tam xin ly hôn tại Tòa án nhưng do bận nên anh C không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án được. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định để giải quyết vụ án theo đúng pháp luật.

3. Tòa án đã ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại buổi làm việc, chị T có mặt, anh C vắng mặt. Chị T có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh C theo quy định tại khoản 3 Điều 210 và ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa:

Chị T xin giải quyết vắng mặt. Anh C mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn của chị T đề nghị xét xử vắng mặt. Vụ án được xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung:

Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị T.

Về con chung: Chị T và anh C không có con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án chị T có đề nghị xin xét xử vắng mặt, anh C mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Trọng C tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 23/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Nam Định. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên không tìm được tiếng nói chung, bản thân anh C không quan tâm đến gia đình nên chị T cảm thấy đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Chị Tam xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên kiên quyết xin ly hôn anh C. Về phía anh C, mặc dù anh biết việc chị Tam xin ly hôn, đã được Toà án triệu tập để tham gia tố tụng nhưng anh C vắng mặt. Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh chị nhưng anh C vẫn vắng mặt. Điều đó chứng tỏ anh không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với chị Tam nữa. Chị Tam đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải vụ án và kiên quyết xin ly hôn anh C nên Tòa án không thể gắn kết hạnh phúc cho anh chị được. Xét thấy, anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn của chị T, xử cho anh chị ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T và anh C không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị T, anh C không yêu cầu giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Trọng C.

2. Về án phí sơ thẩm ly hôn: Chị Bùi Thị T phải nộp là 300.000 đồng, đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002401, ngày 21/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên, chị T đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo của đương sự: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Trọng C được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.

Cỡ chữ