vanban.org

Bản án 36/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q.

Về con chung: Giao con chung Đỗ Minh T , sinh ngày 30-3-2020 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Đỗ Minh Q, sinh ngày 03-7-2018 cho anh Đỗ Đức Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11-5-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VB, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H ; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn B, xã V, huyện VB, thành phố Hải Phòng; có mặt

- Bị đơn: Anh Đỗ Đức Q; nơi cư trú: Thôn A, xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Đỗ Đức Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28-12-2017 tại Ủy ban nhân dân xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận được 03 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hoà hợp nên đã xảy ra xô sát bất hoà. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng nên chị đã về gia đình ở Thôn 7, xã Việt Tiến, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở môt nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được gia đình hòa giải nhưng không đạt kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Đức Q.

Về con chung: Chị và anh Đỗ Đức Q có 02 con chung là Đỗ Minh Q, sinh ngày 03-7-2018 và Đỗ Minh Thái, sinh ngày 30-3-2020. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh Q .

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và trong quá trình xét xử, anh Đỗ Đức Q xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Nguyễn Thị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc thời gian đầu và có hai con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do chị H không trung thực với anh về kinh tế, mặt khác do chị H không quán xuyến việc gia đình nên vợ cH đã xảy ra bất hòa. Chị H đã về gia đình ở Thôn B, xã V, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống, vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị H có 02 con chung là Đỗ Minh Q, sinh ngày 03-7-2018 và Đỗ Minh T , sinh ngày 30-3-2020. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con cả hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị H .

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q. Về con chung: Giao con Đỗ Minh Q, sinh ngày 03-7-2018 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Đỗ Minh T , sinh ngày 30-3-2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q tự giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H chịu 150.000 đồng phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Anh Đỗ Đức Q có hộ khẩu thường trú tại Thôn A, xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 28-12-2017, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có hai con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Nay chị H và anh Q đều xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, anh chị cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu thuận tình ly hôn của Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q phù hợp với Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q có hai con chung là Đỗ Minh Q, sinh ngày 03-7-2018 và Đỗ Minh Thái, sinh ngày 30-3-2020. Khi ly hôn, chị H và anh Q cũng đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh chị trực tiếp nuôi dưỡng. Xét yêu cầu đề nghị nuôi con chung của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Chị H và anh Q đều có nơi ở và thu nhập ổn định, cháu Đỗ Minh T , sinh ngày 30-3-2020 còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần giao con Đỗ Minh T , sinh ngày 30-3-2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Đỗ Minh Q, sinh ngày 03-7-2018 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H nhận chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q.

2. Về con chung: Giao con chung Đỗ Minh T , sinh ngày 30-3-2020 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Đỗ Minh Q, sinh ngày 03-7-2018 cho anh Đỗ Đức Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Đức Q không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H nhận chịu cả 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002511 ngày 13 tháng 3 năm 2023. Hoàn trả lại chị Nguyễn Thị H 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ