- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN - TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST Ngày 06 - 7 - 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN,TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thanh Sơn;
2. Bà Bồ Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/3/2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2023/QĐST- HNGĐ ngày 20/6/2023, Thông báo mở lại phiên tòa số 17/TB-TA ngày 21/6/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Nh, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn Tân Việt, xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Đinh Văn D, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn Tân Việt, xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hà Thị Nh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái vào ngày 24/12/2012 (Giấy đăng ký số: 56/2012 ngày 24/12/2012). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại thôn Tân Việt, xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Chị Hà Thị Nh xác định vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về lối sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không cải thiện và sống ly thân 08 tháng nay không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án nhân dân huyện Trấn Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh Đinh Văn D.
Về con chung: Chị và anh Đinh Văn D có hai con chung là Đinh Hà Hồng Đăng, sinh ngày 27/8/2013 và Đinh Hà Đăng Khoa, sinh ngày 15/7/2020. Ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Đăng và cháu Khoa, không yêu cầu anh Đinh Văn D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hà Thị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và giao nhận, tống đạt các văn bản hợp lệ cho anh Đinh Văn D nhưng bị đơn anh Đinh Văn D không đến Tòa án và không có bản tự khai. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của anh Đinh Văn D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Hà Thị Nh có đơn xin ly hôn với anh Đinh Văn D, nơi cư trú: Thôn Tân Việt, xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Đinh Văn D được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về thủ tục hoà giải: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Trấn Yên đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, giao nhận, tống đạt các văn bản hợp lệ cho anh Đinh Văn D nhưng anh D không có mặt tại Toà án. Căn cứ vào Điều 207, Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được nên Toà án nhân dân huyện Trấn Yên đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Nh và anh Đinh Văn D có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái vào ngày 24/12/2012 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Theo chị Hà Thị Nh thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về lối sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không cải thiện được cuộc sống chung, chị và anh D đã sống ly thân 08 tháng nay không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án nhân dân huyện Trấn Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh D. Anh Đinh Văn D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hoà giải nhưng anh D đều vắng mặt không có lý do. Như vậy, anh Đinh Văn D đã tự từ bỏ quyền lợi và cơ hội hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Dẫn đến hôn nhân giữa chị Hà Thị Nh và anh Đinh Văn D ngày càng trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Hà Thị Nh được ly hôn anh Đinh Văn D theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Hà Thị Nh và anh Đinh Văn D có hai con chung là Đinh Hà Hồng Đăng, sinh ngày 27/8/2013 và Đinh Hà Đăng Khoa, sinh ngày 15/7/2020. Ly hôn, chị Nh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Đăng và cháu Khoa, không yêu cầu anh Đinh Văn D cấp dưỡng nuôi con. Anh Đinh Văn D không có ý kiến về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Vì vậy, cần giao hai cháu Đinh Hà Hồng Đăng và Đinh Hà Đăng Khoa cho chị Hà Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Diện không cấp dưỡng nuôi con cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là hợp tình, hợp lý.
Về tài sản và nợ chung: Chị Hà Thị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết, mặt khác do anh Đinh Văn D chưa có lời khai nên chưa có cơ sở xem xét. Vì vậy, Tòa án không xem xét giải quyết về tài sản và nợ chung.
Về án phí: Chị Hà Thị Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Nh được ly hôn anh Đinh Văn D.
2. Về con chung: Giao hai cháu Đinh Hà Hồng Đăng, sinh ngày 27/8/2013 và Đinh Hà Đăng Khoa, sinh ngày 15/7/2020 cho chị Hà Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Đinh Văn D không cấp dưỡng nuôi con cho đến khi cháu Đăng và cháu Khoa đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hà Thị Nh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng tại Biên lai số AA/2022/0000340 ngày 16/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trấn Yên.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Trấn Yên; - Chi cục THADS huyện Trấn Yên; - UBND xã Quy Mông; - Các đương sự; - Lưu: VT, TA, HSVA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |