vanban.org

Bản án 36/2023/HN-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H.N.T..

Về con chung: giao cháu H.B.A. (giới tính: nam), sinh ngày 01/8/2015 cho bà H.N.T. trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Về cấp dưỡng: các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H.N.T..
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng D; Điều 207 Bộ luật tố tụng D; Điều 227 Bộ luật tố tụng D
TÒA ÁN NHÂN D.
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HN-ST
Ngày: 25/4/2023.
V/v: “Tranh chấp thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau ly
hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN D. QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang

Các Hội thẩm nhân D.:

1/ Bà Nguyễn Thị Mai Hồng

2/ Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Lam Điền – Thư ký Tòa án nhân D. quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân D. quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Dung – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân D. quận Ninh Kiều tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số 567/2022/TLST–HNST ngày 26/9/2022 về việc “tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 220/2023/QĐST ngày 29/3/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà H.N.T., sinh năm 1988

Địa chỉ: 05 đường số 5, khu tái định cư Thới Nhựt 2, khu vực 1, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông H.H.D., sinh năm 1985

Địa chỉ: 371C tổ 3, khu vực 6, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày:

Bà và ông H.H.D. có quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn nhưng do cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên ông bà đã ly hôn, theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn số 211/2018/QD9ST-HNGĐ ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân D. quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Ông bà có 02 con chung là cháu H.B.A. (nam), sinh ngày 01/8/2015 và H.T.A. (nam), sinh ngày 03/12/2017. Theo thỏa thuận khi ly hôn cháu H.B.A. sẽ do ông D. trực tiếp nuôi dưỡng, cháu H.T.A. sẽ do bà trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, từ khi có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án ông D. không thực hiện việc nuôi dưỡng cháu B.A mà bà là người trực tiếp nuôi dưỡng bé B.A và T.A., ông D. không có công việc làm ổn định không có điều kiện chăm sóc cháu B.A. Do đó, bà yêu cầu Tòa án cho bà được quyền nuôi dưỡng cháu H.B.A. và không yêu cầu ông H.H.D. cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa,

Bà H.N.T. vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ông H.H.D. vắng mặt không rõ lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: thẩm phán và đương sự thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng D. sự

- Về nội dung: từ khi Quyết định ly hôn số 211 ngày 26/9/2018 có hiệu lực pháp luật mặc dù cháu B.A giao cho ông H.H.D. trực tiếp nuôi dưỡng nhưng ông D. không thực hiện, bà T. là người nuôi dưỡng cháu H.B.A. từ khi có quyết định ly hôn đến tháng 8/2022. Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp các biên ali thu tiền học phí của cháu B.A đều do bà T. đóng, kết quả thành tích học tập của cháu An đạt thành tích tốt năm học 2021, 2022. Bà T. có công việc ổn định, có thu nhập đảm bảo cuộc sống nuôi dưỡng hai con, đảm bảo việc nuôi dạy hai cháu B.A và T.A., cháu A. cũng có mong muốn sinh sống cùng mẹ. Ông D. không chứng minh được thu nhập đảm bảo cuộc sống, việc học của cháu A. sẽ tốt hơn bà T.. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về án phí sơ thẩm: bà T. tự nguyện chịu nên đề nghị ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà H.N.T. và ông H.H.D. đã ly hôn Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn số 211/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân D. quận Ninh Kiều. Theo thỏa thuận khi ly hôn ông H.H.D. trực tiếp nuôi dưỡng cháu H.B.A., bà T. trực tiếp nuôi dưỡng cháu T.A., nay bà T. khởi kiện yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu B.A. Mặt khác, ông H.H.D. có địa chỉ tại quận Ninh Kiều nên vụ kiện được xác định là “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân D. quận Ninh Kiều theo khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng D. sự.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành các thủ tục công khai chứng cứ, hòa giải theo đúng quy định của pháp luật. Ông H.H.D. đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông H.H.D. là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng D. sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà H.N.T. và ông H.H.D. kết hôn năm 2014. Trong quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là cháu H.B.A. (nam), sinh ngày 01/8/2015 và H.T.A. (nam), sinh ngày 03/12/2017. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông D. và bà T. đã ly hôn, theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn số 211/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân D. quận Ninh Kiều đã giải quyết cho ông bà được ly hôn, về con chung giao cháu H.B.A. cho ông D. trực tiếp nuôi dưỡng và cháu T.A. cho bà T. trực tiếp nuôi dưỡng, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, từ khi ly hôn ông H.H.D. không thực hiện thoả thuận nuôi dưỡng bé B.A mà để cho bà T. trực tiếp nuôi dưỡng, từ tháng 05/2018 đến tháng 02/2020 bé B.A sống chung với bà T. tại khu vực 7, phường Hưng Phú, quận Cái Răng (theo công văn của Công an phường Hưng Phú) và từ năm 2022 bé B.A sống với bà T. tại khu vực 1, phường An Khánh, quận Ninh Kiều (công văn của Công an phường An Khánh). Từ đó cho thấy mặc dù các bên đã có thoả thuận khi ly hôn bé B.A sẽ do ông D. trực tiếp nuôi dưỡng nhưng ông D. đã không thực hiện đúng như thoả thuận.

Mặt khác, trong thời gian bé B.A do bà H.N.T. trực tiếp nuôi dưỡng bé An được học hành, sức khoẻ tốt. Theo biên bản xác minh tại Trường tiểu học Kim Đồng nơi bé An theo học trước khi được chuyển trường thì người đóng tiền học phí và họp phụ huynh cho bé An là bà T., cho thấy trong thời gian này ông H.H.D. không quan tâm hỗ trợ bà T. các chi phí nuôi con hay thực hiện nghĩa vụ của người được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con, vi phạm Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn mà Toà án nhân D. quận Ninh Kiều đã có hiệu lực. Hơn nữa, khi phát sinh tranh chấp về việc nuôi con ông H.H.D. đã có hành vi bạo lực và dùng lời lẽ đe doạ bà T. (BL 27). Tại phiên toà bà T. trình bày cháu B.A do thay đổi môi trường sống và học tập quá đột ngột dẫn đến kết quả học tập tại trường mới của cháu kém hơn so với khi được học tập tại trường tiểu học Kim Đồng. Từ đó cho thấy việc giao cháu B.A cho ông D. trực tiếp nuôi dưỡng không đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của cháu B.A.

Về điều kiện kinh tế: bà T. đang làm việc tại Công ty TNHH Kantek với mức lương 17.000.000đồng/tháng, có công việc, thu nhập ổn định có đủ điều kiện khả năng chăm lo nuôi cả hai cháu B.A và T.A.. Đồng thời, cháu B.A sinh ngày 01/8/2015 đã trên 07 tuổi, tại Bản ghi ý kiến cháu B.A có nguyện vọng muốn được sống với mẹ do đó căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình cần căn cứ vào nguyện vọng của cháu An để xem xét thay đổi người nuôi con.

Từ những phân tích trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà H.N.T. là có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu phần án phí theo quy định nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng D. sự năm 2015.

- Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H.N.T..

- Về con chung: giao cháu H.B.A. (giới tính: nam), sinh ngày 01/8/2015 cho bà H.N.T. trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

- Về cấp dưỡng: các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông H.H.D.. Không ai được quyền ngăn cản ông D. thực hiện quyền này.

- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà H.N.T. chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001000 ngày 13/9/2022 của Chi cục thi hành án D. sự quận Ninh Kiều thành án phí. Đương sự đã nộp xong.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo nói trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án D. sự thì người được thi hành án D. sự, người phải thi hành án D. sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án D. sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án D. sự.

Cỡ chữ