- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tăng Thị Giang - Châu Thị Lang"
- Tòa quyết gì? Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu phường;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2023/DS-ST Ngày 17/5/2023 (V/v Tranh chấp nợ hụi) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
V i thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:
h m hán - Ch t a hiên t a: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
Cá hội th m nh n d n: Bà Huỳnh Hồng Sa và ông Nguyễn Ngọc Anh Hào
Th ký phiên tòa: Trương Quốc Đại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 300/2022/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp nợ hụi”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Bà Tăng Thị G, sinh năm 1967
Địa chỉ: ấp Thạnh A, xã Long Đ, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.
2/. Bị đơn: Bà Châu Thị L, sinh năm 1952
Địa chỉ: ấp Thạnh A, xã Long Đ, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu
(Bà G có mặt, bà L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 21/10/2022 và trong quá trình tố tụng bà Tăng Thị G trình bày: Bà Châu Thị L có tham hụi do bà làm chủ hụi, cụ thể:
- Hụi khui ngày 30/02/2017 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, hụi có 60 chưng, bà L tham gia 01 chưng, tham gia được một thời gian thì bà L hốt. Tính đến hụi mãn thì bà Lan còn nợ hụi chết là 18 kỳ là 18.000.000 đồng. Hiện nay dây hụi này đã mãn.
- Hụi 1.000.000 đồng khui ngày 18/9/2018 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, hụi có 63 chưng, bà L tham gia 02 chưng, sau khi vô hụi một thời gian đến ngày 15/5/2020 âm lịch là 22 chưng bà L hốt 01 chưng, bà đã giao tiền cho bà L đầy đủ. Còn 01 chưng sống bà L đóng được 22 lần với số tiền là 14.010.000 đồng. 01 chưng chết bà L tính hụi mãn thì bà L còn nợ 39 kỳ hụi chết, nhưng tính đến tháng 3/2023 thì bà L còn nợ 33 chưng là 33.000.000 đồng.. Như vậy sau khi đối trừ hụi sống và hụi chết: 33.000.000 đồng – 14.010.000 đồng = 18.990.000 đồng. Hụi này đến tháng 9/2023 âm lịch thì mãn.
- Hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 25/02/2018 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, hụi có 61 chưng, bà L tham gia 02 chưng, tham gia đến ngày 30/5/2020 âm lịch bà Lan hốt 01 chưng, còn lại 01 chưng sống bà L đóng được 29 lần với số tiền 19.450.000 đồng. Tính đến hụi mãn bà L còn nợ tiền hụi chết là 30 chưng là 30.000.000 đồng. Sau khi đối trừ hụi sống và hụi chết: 30.000.000 đồng – 19.450.000 đồng = 10.550.000 đồng. Hiện nay dây hụi này đã mãn.
- Hụi 1.000.000 đồng khui ngày 15/11/2019 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi 53 chưng, bà L tham gia 01 chưng đóng được 08 lần được số tiền 4.850.000 đồng thì bà L xin hốt nhưng bà không đồng ý do bà L đóng không đầy đủ và còn nợ tiền hụi chết của bà.
Sau đó bà có gặp bà L trao đổi nhưng bà không tiếp tục đóng hụi sống và hụi chết cho bà nữa. Bà L kêu trừ ngang hụi chết và hụi sống. Như vậy tổng số tiền hụi sau khi đối trừ hụi sống và hụi chết xong thì bà L vẫn còn nợ bà cụ thể: 18.000.000 đồng + 18.990.000 đồng + 10.550.000 đồng – 4.850.000 đồng = 42.690.000 đồng.
Nay bà khởi kiện yêu cầu bà L phải giao trả tiền hụi là 42.690.000 đồng. Tại đơn khởi kiện của bà yêu cầu bà L phải trả số tiền hụi là 53.700.000 đồng nay bà yêu cầu rút lại số tiền 10.010.000 đồng.
Tại biên bản ghi lời khai của bà Châu Thị L ngày 23/11/2022: Bà thống nhất có tham gia hụi do bà Tăng Thị G là chủ hụi, nhưng dây hụi do bà G trình bày là đúng, cụ thế:
- Hụi 1.000.000 đồng có 60 chưng, bà tham gia 01 chưng và đã hốt xong, sau đó có đóng hụi chết cho bà G, tính đến mãn hụi bà chỉ còn nợ bà G là 11 chưng với số tiền 11.000.000 đồng. Khi hốt hụi bà G có giao giấy tờ nhưng thời gian lâu bà đã làm thất lạc.
Hụi 1.000.000 đồng , hụi có 63 chưng, bà tham gia 02 chưng, đóng đến kỳ 30 thì bà hốt 01 chưng, còn 01 chưng sống cũng đóng được 30 chưng. Như vậy tính đến hụi mãn thì bà còn nợ 31 chưng hụi chết là 31.000.000 đồng, hụi sống đóng được 30 chưng là 30.000.000 đồng, nên dây hụi này bà chỉ còn nợ bà G 1.000.000 đồng.
Hụi 1.000.000 đồng, hụi có 61 chưng, bà cũng tham gia 02 chưng, bà đóng được 30 kỳ thì hốt 01 chưng, còn 01 chưng sống cũng đóng được 30 kỳ nên dây hụi này bà không nợ tiền hụi của bà G.
Hụi 1.000.000 đồng , hụi có 53 chưng, bà tham gia 01 chưng không nhớ đóng được bao nhiêu lần nhưng bà G xác định bà đóng được 8 chưng thì bà cũng đồng ý. Như vậy hụi này bà đóng được 8 chưng là 8.000.000 đồng. Nên bà xác định tiền hụi của bà G là 11.000.000 đồng + 1.000.000 đồng – 8.000.000 đồng = 4.000.000 đồng, bà chỉ còn nợ tiền hụi của bà G tiền hụi là 4.000.000 đồng. Bà gặp khó khăn nhưng bà G không đồng ý cho bà hốt hụi nên bà có nói là trừ ngang hụi sống và hụi chết cho bà luôn. Từ khi tham gia hụi đến nay đã lâu mà bà G không có qua nói với bà còn nợ tiền hụi gì cả. Nay lại có đơn khởi kiện yêu cầu bà trả tiền hụi là 53.700.000 đồng thì bà không thống nhất và đồng ý giao trả số tiền trên cho bà G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Xét thấy giao dịch hụi giữa bà G và bà L là hoàn toàn xảy ra trên thực tế. Bà G khởi kiện yêu cầu bà L giao trả số tiền hụi là 53.700.000 đồng nhưng bà G rút lại một phần khởi kiện với số tiền 11.010.000 đồng, chỉ yêu cầu trả số tiền 42.690.000 đồng đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Quá trình làm việc bà L cũng thừa nhận có giao dịch hụi với bà G nên ghi nhận đây là sự thât. Đối với các dây hụi bà L xác định đã đóng hụi chết cho bà G nhưng bà không có gì chứng minh nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà G. Buộc bà L có nghĩa vụ giao trả cho bà G số tiền hụi là 42. 696.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Tăng Thị G khởi kiện tranh chấp nợ hụi, bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Đ H. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ H.
Bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu được thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà G và bà L thống nhất với nhau về số dây hụi, loại hụi, số chưng hụi tham gia. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh đối với các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự ghi nhận đây là sự thật.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà G, bà G có cung cấp danh sách hụi viên và sổ sách. Theo bà L xác định thời gian ngưng tham gia hụi cụ thể: Hụi 1.000.000 đồng, có 60 chưng, bà L xác định còn nợ hụi chết là 11 chưng thì qua đối chiếu với sổ sách hụi thì ngưng đóng là tháng 12/2020 âm lịch. Hụi 1.000.000 đồng có 61 chưng, bà L tham gia 02 chưng, đóng được 30 chưng thì hốt 01 chưng và còn 01 chưng sống cũng đóng được 30 chưng, qua đối chiếu thì ngưng đóng là tháng 6/2020. Hụi 1.000.000 đồng, có 63 chưng, bà L tham gia 02 chưng, sau đó đóng được 30 chưng thì hốt 01 chưng, còn 01 chưng sống cũng đóng được 30 chưng, qua đối chiếu thì ngưng đóng là tháng 02/2021. Hụi 1.000.000 đồng, có 53 chưng, bà L tham gia 01 chưng và đóng được 08 chưng, qua đối chiếu thì ngưng đóng là 5/2020. Như vậy các dây hụi bà L trình bày thì thời gian ngưng đóng hụi không khớp nhau nên lời khai của bà L không có căn cứ. Trong khi bà G thì xác định bà L ngưng tham gia hụi là tháng 5/2020. Hội đồng xét xử xét thấy bà L có thừa nhận dây hụi 53 chưng đóng được 08 chưng thì ngưng là tháng 5/2020, như vậy lời trình bày của bà G là có căn cứ xác định thời gian bà L ngưng tham gia hụi là tháng 5/2020. Bà L không nhớ số tiền hụi thực tế mà bà đã đóng hụi cho bà G nên bà tính vốn hụi và cả lãi hụi. Tuy nhiên theo sổ sách hụi thì xác định bà L đã đóng đối với các dây hụi sống là 38.310.000 đồng. Đối với hụi chết của các dây hụi bà L đóng là 81.000.000 đồng. Sau khi đối trừ hụi sống và hụi chết thì bà L còn nợ bà G số tiền hụi là 81.000.000 đồng – 38.310.000 đồng = 42.690.000 đồng. Việc bà L đã trả tiền hụi xong cho bà G nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh về số tiền hụi đã đóng cho bà G nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G. Buộc bà L trả số tiền 42.690.000 đồng cho bà G là phù hợp.
Tại phiên tòa hôm nay là Giang rút một phần yêu cầu với số tiền 11.010.000 đồng, chỉ yêu cầu bà L trả số tiền hụi là 42.690.000 đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà L có nghĩa vụ nộp số tiền: 42.690.000 đồng x 5 % = 2.134.500 đồng. Hoàn lại cho bà G tiền tạm ứng án phí 1.342.500 đồng theo biên lai thu số lai thu số 0009551 ngày 21/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.
Quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
á l trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu phường;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tăng Thị G đối với bà Châu Thị L về tranh chấp nợ hụi.
Buộc bà Châu Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Tăng Thị G số tiền hụi là 42.690.000 đồng
2/. Đình chỉ xét xử yêu cầu của đối với bà Tăng Thị G yêu cầu bà Châu Thị L đối với số tiền 11.010.000 đồng.
3/. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Châu Thị L phải nộp 2.134.500 đồng. Hoàn lại cho bà Tăng Thị G tiền tạm ứng án phí 1.342.000đồng theo biên lai thu số 0009551 ngày 21/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Đ H - Chi cục THADS huyện Đ H - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | Thạch Thị Ngọc Bích |