vanban.org

Bản án 36/2023/DS-ST — Tranh chấp cá nhân

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 05/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện v/v "Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" của Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T đối với bà Đồng Thanh H1.

Buộc bà Đồng Thanh Huyền phải trả cho Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng). Án phí và chi phí tố tụng khác: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp cá nhân — án dân sự — "y/c thực hiện nghĩa vụ trả tiền"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện v/v "Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" của Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T đối với bà Đồng Thanh H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/DS-ST
Ngày 05 tháng 5 năm 2023
V/v "Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Công Tâm

Ông Phạm Xoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 265/2022/TLST-DS ngày 17/11/2022 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2023/QĐST-DS ngày 28/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 265/2023/QĐST-DS ngày 12/4/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T; Địa chỉ: 222 đường T1, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1985 – chức vụ: Giám đốc. Bà H có mặt.

2. Bị đơn: Bà Đồng Thanh H1; sinh năm 1991; Địa chỉ: 94/4 đường T2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà H1 vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các Bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn bà Lê Thị Bích H trình bày:

Vào ngày 19/5/2022, Công ty chúng tôi nhận bà Đồng Thanh H1 vào làm việc tại Công ty với vị trí công việc là Lễ tân khách sạn của công ty chúng tôi đang thuê – Khách sạn S với mức lương một tháng là 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm ngàn đồng). Tháng 8 năm 2022, sau khi bà H1 thu tiền phòng khách sạn 33.343.683đ nhưng không nộp về Công ty. Tôi đã nhiều lần nhắc với bà H1 nhưng bà H1 đưa ra nhiều lý do để trì hoãn việc trả lại tiền cho Công ty chúng tôi. Ngày 04/10/2022, Công ty chúng tôi đã làm đơn tố cáo vì hành vi của bà H1 đến Công an phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn và Công an quận Ngũ Hành Sơn nhưng được trả lời đây là vụ án dân sự. Sau đó ngày 19/10/2022, bà H1 đã chuyển khoản trả cho Công ty 10.000.000đ và vào ngày 24/10/2022, tại Cơ quan Công an quận Ngũ Hành Sơn bà H1 đã viết Giấy cam kết trả cho Công ty số tiền 24.000.000đ vào ngày 01/11/2022 nhưng vẫn không thực hiện nên Công ty chúng tôi khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết buộc bà Đồng Thanh H1 phải trả lại cho Công ty chúng tôi số tiền 24.0000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng).

Quá trình giải quyết tại Tòa án, bà H1 đã trả cho Công ty chúng tôi 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Nay Công ty chúng tôi yêu cầu bà Đồng Thanh H1 phải trả lại cho Công ty số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà Đồng Thanh H1 để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Bà Đồng Thanh H1 là nhân viên của Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T. Quá trình làm việc, tháng 8/2022, bà H1 sau khi thu tiền phòng khách sạn của Công ty đã không nộp về Công ty. Công ty đã nhiều lần nhắc với bà H1 nhưng bà H1 đưa ra nhiều lý do để trì hoãn việc trả lại tiền cho Công ty. Ngày 04/10/2022, Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T đã làm đơn tố cáo vì hành vi của bà H1 đến Công an phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn và Công an quận Ngũ Hành Sơn nhưng được trả lời đây là vụ án dân sự. Sau đó ngày 19/10/2022, bà H1 đã chuyển khoản trả cho Công ty 10.000.000đ và vào ngày 24/10/2022, tại Cơ quan Công an quận Ngũ Hành Sơn bà H1 đã viết Giấy cam kết trả cho Công ty số tiền 24.000.000đ vào ngày 01/11/2022 nhưng vẫn không thực hiện nên Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết buộc bà Đồng Thanh H1 phải trả lại cho Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T số tiền 24.0000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng).

Quá trình giải quyết tại Tòa án, bà H1 đã trả cho Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Nay Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T yêu cầu bà Đồng Thanh H1 phải trả lại cho Công ty số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Quá trình làm việc tại Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T, bà H1 thu tiền phòng khách sạn cho Công ty nhưng không nộp về Công ty nên bà H1 đã viết Giấy cam kết vào ngày 24/10/2022 tại Công an quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên phía bị đơn đã không thực hiện đúng nội dung cam kết nên nguyên đơn khởi kiện; quá trình thụ lý giải quyết tại Tòa án, bà Đồng Thanh H1 đã trả cho Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T số tiền 8.000.000đ. Nay Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T xác định yêu cầu bà Đồng Thanh H1 phải trả số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) là có căn cứ, đúng pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần buộc bà Đồng Thanh H1 phải trả lại cho Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T số tiền là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng).

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Đồng Thanh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 16.000.000đ x 5% ~ 800.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 280 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện v/v "Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" của Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T đối với bà Đồng Thanh H1.

Buộc bà Đồng Thanh Huyền phải trả cho Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng).

2. Án phí và chi phí tố tụng khác:

Án phí Dân sự sơ thẩm: 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) bà Đồng Thanh H1 phải chịu.

Hoàn trả cho Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T số tiền tạm ứng phí 600.000đ (Sáu trăm ngàn đồng) mà Công ty TNHH tư vấn thiết kế xây dựng T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0006877 ngày 15/11/2022.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ