- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tạm giam bị cáo: Nguyễn Văn Đình, sinh ngày 29 tháng 9 năm 2003 .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2022/HSST Ngày 08 tháng 9 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc.
Bà Nguyễn Thị Hồng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Ông Dương Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2022 tại điểm cầu trung tâm, Phòng xét xử số 2, tầng II, hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2022/HSST ngày 19 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HS ngày 26/8/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 29 tháng 9 năm 2003; Nơi đăng ký hộ khẩu: thôn C, xã N, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: thôn Q, xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: lao động tự do; Văn hoá: lớp 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1978; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2022 đến nay (có mặt).
Người bị hại: Chị Trần Thị T, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 16 tháng 6 năm 2022, Nguyễn Văn Đ, trú tại thôn C, xã N, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (hiện đang ở nhà bà ngoại tại thôn Q, xã Đ, huyện Sông Lô) một mình đi bộ qua cửa hàng tạp hóa của chị Trần Thị T ở thôn Q, xã Đ, Đ quan sát thấy trên cửa chính của quán có lỗ ô gió có thể chui qua được nên đã nảy sinh ý định vào bên trong quán để trộm cắp tài sản. Đình nhảy lên dùng hai tay nắm vào xà ngang gỗ của mái che rồi đu người luồn hai chân và người qua ô gió, dẫm chân xuống chiếc tủ lạnh dưới nền nhà để vào bên trong quán. Khi vào trong quán, Đ lấy bật lửa bật lên để soi tìm kiếm tài sản. Phát hiện 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS: 88C1- 12175 vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện, Đ mở then ngang và chốt cửa phụ của quán dắt chiếc xe môtô ra đường bê tông rồi quay lại khép cửa như cũ. Sau đó, Đ nổ máy điều khiển xe môtô vừa trộm cắp được đi tìm nơi tiêu thụ nhưng chưa tiêu thụ được. Khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, Đ điều khiển chiếc xe môtô về xã Đ, biết Cơ quan điều tra đang rà soát, truy tìm mình nên đã đến trụ sở Công an huyện Sông Lô đầu thú và giao nộp chiếc xe môtô trộm cắp của chị Tươi.
Ngày 17/6/2022 cơ quan điều tra Công an huyện Sông Lô yêu cầu định giá tài sản số 148/YC-ĐGTS, tại Kết luận định giá tài sản số 34 ngày 17/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Lô kết luận: 01 chiếc môtô BKS: 88C1-121.75 giá trị là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Đối với 01 chiếc xe môtô BKS: 88C1-121.75 nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, xác định là tài sản của chị Trần Thị Ti, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T vào ngày 30/6/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa chị T không yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường gì cho chị.
Tại bản cáo trạng số: 38/CT–VKSSL, ngày 18/8/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với hành vi của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Phạt Nguyễn Văn Đ từ 10 tháng đến 14 tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
Về trách nhiệm bồi thường: Tại phiên tòa chị T không yêu cầu bị cáo Đhải bồi thường gì cho chị nên không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối hận, bị cáo và người bị hại nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, người bị hại không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 16/6/2022, bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản của gia đình chị Trần Thị T tại quán tạp hóa thuộc thôn Q, xã Đ, huyện Sông Lô, 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Dream Biển kiểm soát 88C1-121.75, trị giá 20.000.000đ. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai và bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập đúng theo trình tự của Bộ luật hình sự, được thể hiện trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Dream Biển kiểm soát 88C1-121.75, trị giá 20.000.000đ của chị T. Do vậy hành vi trộm cắp tài sản của chị T mà bị cáo thực hiện đã cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản", tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Do đó bản cáo trạng số: 38/CT–VKSSL ngày 18/8/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đvề tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Xét tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đối chiếu với yêu cầu phòng chống tội phạm ở địa phương, cần xử phạt bị cáo nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và dăn đe những người khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xét về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá tình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đến cơ quan Công an huyện đầu thú. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, luôn có ý thức chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xác định không có tài sản, sống phụ thuộc gia đình, không có nghề nghiệp và thu nhập gì. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về bồi thường dân sự: Quá trình đều tra và tại phiên tòa chị T không yêu cầu bị cáo Đ bồi thường gì. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố Tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa màu đỏ đã cũ không còn giá trị sử dụng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16/6/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố Tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa màu đỏ đã cũ (theo biên bản chuyển vật chứng ngày 29/8/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Lô với Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Sông Lô).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; -Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; -Chi cục THA dân sự huyện Sông Lô; -Công an huyện Sông Lô; -UBND xã N và xã Đ; -Bị cáo; Người bị hại; -Lưu hs; Vp.
Nguyễn Kiên Thành TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN SÔNG LÔ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH VĨNH PHÚC
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào 08 hồi giờ 20 phút ngày 08 tháng 9 năm 2022;
Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân, tỉnh Vĩnh Phúc.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và bà Nguyễn Thị Ngọc.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2022/HSST ngày 19 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đình, sinh ngày 29/9/2003.
Nơi đăng ký hộ khẩu: thôn Cung Kiêm, xã Nhân Hòa, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Nơi ở: thôn Quế Trạo A, xã Đồng Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1/ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
2/ Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
3/ Về tội danh và Điều luật áp dụng: có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Nguyễn Văn Đình phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Đình. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
4/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đình 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/6/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa màu đỏ đã cũ (theo biên bản chuyển vật chứng ngày 29/8/2022 giữa Cơ quan điều tra với Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Sông Lô). Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
5/ Về án phí hình sự: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đình phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ
thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
6/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Vĩnh Tường trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
7/ Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
Nghị án kết thúc vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 08 tháng 9 năm 2022.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nguyễn Thị Ngọc
Nguyễn Kiên Thành
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN SÔNG LÔ
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
TỈNH VĨNH PHÚC
Sông Lô ngày 08 tháng 9 năm 2022 Số: 23/2022/HSST-QĐTG
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc và bà Nguyễn Thị Hồng.
Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 08/9/2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc Thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tạm giam bị cáo: Nguyễn Văn Đình, sinh ngày 29 tháng 9 năm 2003 .
Nơi đăng ký hộ khẩu: thôn Cung Kiêm, xã Nhân Hòa, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Nơi ở: thôn Quế Trạo A, xã Đồng Quế, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 6 năm 2022.
Thời hạn tạm giam là: 45 (Bốn mươi năm) ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 08/9/2022.
2/ Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm Thi hành quyết định này.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Sông Lô; - TTG Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kiên Thành |