- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lang Đức S trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình S; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình S; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình S
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! !!!!!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! THÀNH!PHỐ!TỪ!SƠN! TỈNH!BẮC!NINH! !!!!!!!!!!!!!!!!!!! ! Bản án số: 36/2022/HS-ST Ngày: 22/11/2022 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!TỪ!SƠN!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hoàn
Các Hội thẩm dân nhân: Ông Ngô Xuân Hải
Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Anh Thơ- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên toà:
Bà Ngô Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 22/11/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình S thụ lý số 38/2022/TLST-HS ngày 08/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2022/QĐXXST-HS ngày 10/11/2022 đối với bị cáo:
Lang!Đức!S!-!Sinh!năm:!1996;!
Nơi đăng ký HKTT: xóm X, xã Y, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12;
Con ông Lang Văn T, sinh 1961 và bà Lộc Thị D, sinh 1964
Vợ, con: chưa có
- Tiền án: không
- Tiền S:
Tiền S: Tại quyết định số 21 ngày 19/6/2020 của TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Ngày 04/02/2022, bị cáo chấp hành xong quyết định này.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh 1977 (vắng mặt)
TQ: Khu phố Ng, phường Đ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh!
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ ngày 30/8/2022, S đi lang thang tại khu vực chợ Tân Anh tại khu phố Trần Phú, phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi S đi đến quầy bán thịt tại chợ Tân Anh thì thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, biển kiểm soát 99B1-43372 của chị D đang dựng chân chống phụ, tại vị trí ổ khóa điện của xe có cắm chìa khóa nhưng không có người trông giữ. Thấy vậy, S tiến lại gần chiếc xe và ngồi lên yên xe, chân trái gạt chân chống phụ xe mô tô rồi dùng chân đẩy đi lên phía trước khoảng 50cm đề nổ máy thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, hô hoán. S vứt xe đổ nghiêng sang bên phải và bỏ chạy được khoảng 50m thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ, giao cho cơ quan công an giải quyết. Cơ quan điều tra công an thành phố Từ Sơn đã thu giữ vật chứng gồm:
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 99B1-43372
Thu giữ tại hệ thống camera giám sát lắp đặt tại chợ Tân Anh 01 video ghi lại hình ảnh S trộm cắp xe mô tô lưu giữ vào 01 USB màu đen.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 76/KL-HĐĐG ngày 07/9/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình S thành phố Từ Sơn kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave màu xanh đen bạc, biển số: 99B1-433.72, số máy: 128410, số khung 414411 đã qua sử dụng tháng 12/2019, có giá trị 13.000.000 đồng”
Với hành vi trên tại bản Cáo trạng số 199/CT-VKS ngày 08/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo S ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình S.
Tại phiên tòa, bị cáo S đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng. Sáng ngày 30/8/2022, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô hiện Honda Wave màu xanh đen bạc của chị D. Bị cáo xác định nay bị truy tố, xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, không có oan sai gì.
Người bị hại là chị D vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại cơ quan điều tra chị đã có lời khai đầy đủ. Chị đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên bản Cáo trạng số 199/CT-VKS ngày 08/11/2022. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình S cũng như nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Lang Đức S phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình S
Xử phạt: Lang Đức S từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/8/2022
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản gì.
Trách nhiệm dân S: không xem xét giải quyết.
Tang vật vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình S, Điều 106 Bộ luật tố tụng dân S
Lưu hồ sơ vụ án 01 USB đựng trong phong bì thư được niêm phong theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào nghị án, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!
!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Từ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình S. !
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với đơn trình báo của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 7 giờ 00 phút, ngày 30/8/2022 tại khu vực chợ Tân Anh có địa chỉ tại khu phố Trần Phú, phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Lang Đức S đã có hành vi lén lút trộm cắp của bà Nguyễn Thị D 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 99B1-433.72, trị giá 13.000.000 đồng.
Do vậy, VKSND thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình S là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây thiệt hại về mặt vật chất cho người bị hại mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, tạo tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Xét thấy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung với xã hội.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình S của bị cáo thì thấy: Bị cáo được xác định là người chưa có tiền án nhưng là đối tượng nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần này là lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình S quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình S.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình S nào
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình S của bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn là có căn cứ và phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân S: Bà Dung đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Vật chứng vụ án: 01 USB đựng trong phong bì thư được niêm phong theo quy định của pháp luật cần lưu trong hồ sơ vụ án là phù hợp pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Tuyên bố bị cáo Lang Đức S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình S; Điều 106, khoản 2 điều 136; Điều 329, điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình S; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Khóa 14 về thu nộp án phí, lệ phí.
Xử phạt: Lang Đức S 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/8/2022.
Tạm giam bị cáo S 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng vụ án: Lưu hồ sơ vụ án 01 USB đựng trong phong bì thư được niêm phong theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo S phải chịu 200.000đ tiền án phí hình S sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ./. Nơi!nhận:!
T/M.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- VKSND thành phố Từ Sơn;
Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa!
- TAND tỉnh Bắc Ninh;
!
- Thi hành án dân S thành phố Từ Sơn;
!
- Những người tham gia tố tụng;
!
- Lưu hồ sơ, văn phòng.!
!!!!!
!
!
Ngô!Thị!Hoàn!
!
!
!!! !
!